Nuoi.netNuôi
Nuôi vịt và ngan

Dịch tả vịt ở vịt lớn và vịt đẻ: dấu hiệu, cách ly, phòng bệnh và khi nào gọi thú y

Dịch tả vịt do virus gây ra, lây mạnh qua nước, làm vịt lớn chết nhanh và vịt đẻ tụt trứng. Dấu hiệu, bệnh dễ nhầm, việc làm ngay và cách phòng ở nông hộ.

A veterinary worker in protective coveralls and gloves crouching beside a fenced duck pen in Dong Thap, examining a duck while the farmer stands back

Dịch tả vịt là bệnh truyền nhiễm do virus, gặp ở vịt, ngan và ngỗng mọi lứa tuổi, lây mạnh qua nguồn nước chung; ở vịt lớn và vịt đẻ, bệnh thường làm chết nhanh, chết nhiều và làm sản lượng trứng tụt đột ngột. Không có thuốc đặc trị virus; cách bảo vệ đàn là tiêm phòng theo hướng dẫn thú y, giữ an toàn sinh học và báo thú y ngay khi nghi bệnh để được lấy mẫu, xác định đúng bệnh.

Bệnh này không liên quan tới bệnh tả ở người. Nhiều nơi gọi theo dấu hiệu là bệnh vịt sưng đầu. Vì cúm gia cầm cũng có thể làm vịt sưng đầu, chảy nước mắt, chết nhiều, người nuôi không nên tự kết luận. Bài này giúp bạn nhận ra dấu hiệu nghi ngờ, biết làm gì trong những giờ đầu và phòng bệnh cho lứa sau; phần chẩn đoán và xử lý ổ bệnh là việc của cán bộ thú y.

Dịch tả vịt là bệnh gì

Tác nhân gây bệnh là một loại virus thuộc nhóm herpes, chỉ gây bệnh cho các loài thủy cầm. Gà không mắc bệnh này. Ngan được ghi nhận là loài rất nhạy cảm; ngỗng và vịt nhà đều mắc. Bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng hay bùng vào những thời điểm đàn bị căng thẳng: chuyển mùa, vận chuyển xa, nhập đàn mới, chạy đồng qua vùng có dịch.

Virus đi theo phân, dịch mắt mũi của vịt bệnh vào nước, rồi lây sang con khỏe qua đường ăn uống. Vì vịt sống gắn với nước, một con kênh, một ao chung có thể đưa bệnh từ đàn này sang đàn khác dọc cả xóm. Thủy cầm hoang dã, vịt trời cũng có thể mang virus. Đáng lo hơn, một số con vịt qua khỏi bệnh vẫn mang virus trong người và thải ra từng đợt, nên đàn từng có bệnh mà không được xử lý đúng sẽ là nguồn lây âm thầm cho những lứa sau và đàn hàng xóm.

Mức độ thiệt hại khác nhau rất nhiều giữa các ổ bệnh. Có đàn chết rải rác rồi dừng, có đàn chết phần lớn trong thời gian ngắn. Điều đó phụ thuộc vào chủng virus, tình trạng tiêm phòng, tuổi vịt và việc người nuôi phát hiện, báo thú y sớm hay muộn. Phần duy nhất nằm trong tay người nuôi là phần cuối cùng.

Hiểu bệnh do virus giúp tránh một sai lầm phổ biến: mua kháng sinh về cho cả đàn uống. Kháng sinh không diệt được virus, chỉ tốn tiền, làm chậm việc gọi thú y và để lại tồn dư trong thịt, trứng.

Dấu hiệu nghi ngờ ở vịt lớn và vịt đẻ

Không phải con bệnh nào cũng có đủ các dấu hiệu dưới đây, và nhiều dấu hiệu cũng gặp ở bệnh khác. Thấy vài dấu hiệu cùng lúc trên nhiều con là lúc cần hành động:

  • Chết đột ngột, có khi chết những con đang béo khoẻ; số chết tăng nhanh qua từng ngày.
  • Mắt nhắm hờ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt làm ướt lông quanh mắt, mi mắt dính.
  • Sưng đầu, sưng phần dưới hàm và cổ, sờ thấy mềm, nhiều nơi gọi tên bệnh theo dấu hiệu này.
  • Chảy nước mũi, khát nước nhiều, đứng ủ rũ, lông xù, bỏ ăn.
  • Đi phân lỏng, màu xanh hoặc trắng xanh, dính quanh hậu môn.
  • Đi loạng choạng, liệt chân, nằm bẹp, không xuống nước được.
  • Vịt đẻ tụt trứng mạnh trong vài ngày, kèm vịt chết; trứng có thể biến dạng, vỏ kém.

Ghi lại thật cụ thể ngày đầu tiên thấy dấu hiệu, số con chết mỗi ngày, số trứng mỗi ngày, các dấu hiệu chính, đàn đã đi những đâu, đã tiếp xúc với đàn nào. Đây là thông tin cán bộ thú y sẽ hỏi trước tiên.

Những bệnh dễ nhầm với dịch tả vịt

Một số bệnh và tình huống khác cũng làm vịt chết nhanh, chảy nước mắt hoặc sưng đầu. Bảng dưới không dùng để tự chẩn đoán, mà để bạn thấy vì sao phải gọi thú y lấy mẫu.

Bệnh, tình huốngĐiểm giốngVì sao quan trọng phải phân biệt
Cúm gia cầmChết nhiều, sưng đầu, chảy nước mắt, giảm đẻLà dịch phải báo, có thể lây sang người; cách xử lý ổ dịch theo quy định riêng.
Tụ huyết trùng vịtChết nhanh, bỏ ăn, phân lỏngDo vi khuẩn, cách điều trị và phòng khác hẳn bệnh do virus.
Ngộ độc thuốc bảo vệ thực vậtChết hàng loạt, liệt, loạng choạngKhông lây, nhưng cần tìm nguồn độc để dừng ngay; không bán vịt nghi ngộ độc.
Ngộ độc thức ăn mốcBỏ ăn, yếu chân, chết rải rácThay thức ăn là cải thiện; nhầm với bệnh truyền nhiễm sẽ xử lý sai.

Chỉ xét nghiệm mới xác định chắc chắn. Cán bộ thú y có thể lấy mẫu con bệnh, con chết gửi phòng xét nghiệm; việc của bạn là giữ nguyên hiện trường, không mổ xác lung tung, không vứt xác đi trước khi thú y tới.

Nghi bệnh: những việc làm ngay trong ngày

Thời gian tính bằng giờ. Làm đúng thứ tự dưới đây để giữ bệnh trong phạm vi nhỏ nhất:

  1. Nhốt toàn đàn tại chỗ, ngưng thả ra ao, mương, đồng; ngưng mọi việc di chuyển, nhập thêm hay bán vịt.
  2. Tách con bệnh nặng ra ô riêng nếu làm được mà không phải lùa cả đàn chạy loạn.
  3. Gọi ngay cán bộ thú y xã, báo chính quyền thôn, xã. Nói rõ số con, số chết, dấu hiệu, từ ngày nào.
  4. Thu gom xác vịt chết vào bao kín, để một chỗ riêng chờ thú y hướng dẫn; tuyệt đối không vứt ra sông, kênh, bãi rác, không bán, không làm thịt ăn.
  5. Người chăm đàn đeo găng tay, khẩu trang, ủng; rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc; hạn chế người ra vào khu nuôi.
  6. Không mang dụng cụ, lồng, xe từ chuồng bệnh sang nhà khác; không đi thăm chuồng hàng xóm trong thời gian này.
  7. Làm theo hướng dẫn xử lý của thú y, kể cả việc vệ sinh, tiêu độc và thời gian để trống chuồng.

Việc báo dịch nhiều người ngại vì sợ thiệt hại. Nhưng giấu bệnh, bán chạy cho thương lái là mang bệnh đi khắp vùng, và đàn của bạn lứa sau cũng sẽ lại nhiễm từ chính những đàn đó. Luật Thú y 2015 quy định trách nhiệm khai báo khi động vật mắc bệnh, chết nhiều; nội dung cụ thể nên kiểm theo văn bản hiện hành.

Phòng bệnh cho lứa sau

Tiêm phòng theo hướng dẫn thú y. Có vắc-xin phòng dịch tả vịt. Độ tuổi tiêm, số lần tiêm nhắc, cách bảo quản vắc-xin cán bộ thú y sẽ hướng dẫn theo tình hình vùng. Vắc-xin hỏng vì để nóng thì tiêm cũng không bảo vệ được, nên mua ở nơi có tủ lạnh bảo quản.

Con giống rõ nguồn. Mua vịt, ngan từ cơ sở có theo dõi dịch bệnh, có thông tin về tiêm phòng. Vịt mua chợ trộn nhiều nguồn là rủi ro cao nhất.

Cách ly con mới. Vịt mới mua nuôi riêng một thời gian, theo dõi rồi mới nhập đàn. Không nhập vịt mới vào đàn đang đẻ.

Hạn chế nước chung. Đàn nuôi gần kênh, ao chung với nhiều nhà là đàn dễ nhiễm nhất. Khi trong vùng có dịch, nhốt vịt, cho uống nước giếng, nước máy sạch.

Cùng vào cùng ra. Hết lứa thì xuất hết, dọn sạch, để trống chuồng rồi mới nuôi lứa mới. Không giữ lại vài con khỏi bệnh để nuôi tiếp.

Giữ sổ tiêm phòng. Ghi ngày tiêm, loại vắc-xin, số lô nếu có, số con được tiêm. Khi đàn có chuyện, thú y nhìn sổ là biết đàn đã được bảo vệ tới đâu, khỏi phải đoán.

Kiểm soát người và xe. Người buôn gia cầm, xe chở vịt đi từ đàn này sang đàn khác là cầu nối của mầm bệnh. Nói chuyện với họ ở ngoài cổng, không cho vào chuồng.

Sau ổ bệnh: đàn còn lại, chuồng và ao

Khi ổ bệnh qua đi, người nuôi thường muốn giữ lại những con còn sống để gỡ vốn. Đây là quyết định nên bàn với cán bộ thú y chứ không tự làm, vì như đã nói, vịt qua khỏi dịch tả có thể vẫn mang virus và thải ra từng đợt. Giữ chúng làm đàn đẻ lâu dài, bán cho người khác nuôi tiếp hay nhập chung với lứa mới đều là cách để bệnh quay lại. Thú y sẽ hướng dẫn đàn còn lại nên xử lý thế nào tuỳ tình hình cụ thể và quy định hiện hành.

Chuồng, sân và dụng cụ cần được làm sạch theo thứ tự: dọn hết phân, độn ra khu xử lý theo hướng dẫn, không đem bón ngay cho ruộng rau; cọ rửa nền, vách, máng; tiêu độc bằng loại thuốc và nồng độ thú y chỉ định; để khô và trống chuồng đủ thời gian. Ao vịt đã dùng nên được tháo cạn, vét bùn, phơi đáy nếu điều kiện cho phép, vì nước và bùn là nơi virus tồn tại.

Với hộ nuôi cả ngan, cần nhớ ngan rất nhạy với bệnh này. Đàn ngan ở cùng khu với ổ dịch tả vịt nên được thú y kiểm tra, và lứa ngan mới chỉ nên thả khi chuồng đã được xử lý xong.

Khi nào phải gọi thú y, không chờ thêm

Gọi thú y không chỉ dành cho lúc đàn chết. Trước mỗi lứa, một cuộc gọi hỏi thú y xã xem vùng mình có ổ dịch tả vịt nào gần đây không, lịch tiêm năm nay ra sao, giúp bạn chuẩn bị đúng lúc.

Gọi ngay khi có một trong các tình huống sau: vịt chết nhiều hơn bình thường trong một hai ngày; nhiều con cùng sưng đầu, chảy nước mắt, mắt nhắm hờ; vịt đẻ tụt trứng mạnh kèm vịt ốm, chết; ngan trong nhà hoặc đàn hàng xóm cũng đang chết bất thường; hoặc vùng bạn ở đã có thông báo dịch gia cầm. Đừng chờ thêm một hai hôm để xem tình hình, vì với bệnh virus lây qua nước, vài ngày đủ để cả đàn và đàn kế bên nhiễm.

Khi gọi, chuẩn bị sẵn thông tin: loài, số con, tuổi, đã tiêm gì và khi nào, dấu hiệu, số chết theo từng ngày, đàn có đi đâu, có nhập con mới không, nguồn nước dùng. Giữ lại vài xác mới chết trong bao kín ở nơi mát để thú y lấy mẫu nếu cần.

Sau khi ổ bệnh đã được xử lý, hỏi thú y về thời gian để trống chuồng, cách tiêu độc, và lịch tiêm cho đàn mới. Lứa sau có đi lại vết xe cũ hay không phụ thuộc phần lớn vào khoảng thời gian này.

Câu hỏi thường gặp

Dịch tả vịt có lây sang người không?

Dịch tả vịt không được ghi nhận là gây bệnh cho người. Nhưng vì dấu hiệu dễ nhầm với cúm gia cầm, vốn có thể lây sang người, khi vịt chết nhiều vẫn phải đeo găng tay, khẩu trang và gọi thú y xác định.

Gà có mắc dịch tả vịt không?

Không. Bệnh chỉ gặp ở thủy cầm như vịt, ngan, ngỗng. Tuy vậy, nhà nuôi cả gà và vịt vẫn phải giữ vệ sinh chung, vì gà và vịt dùng chung nhiều bệnh khác, trong đó có cúm gia cầm.

Vịt đã tiêm phòng có mắc dịch tả nữa không?

Tiêm phòng đúng cách giảm mạnh nguy cơ nhưng không bảo đảm tuyệt đối, nhất là khi vắc-xin bảo quản sai, tiêm không đủ liều nhắc, hoặc vịt đang yếu. Tiêm phòng phải đi kèm an toàn sinh học.

Cho vịt uống kháng sinh có chữa được dịch tả vịt không?

Không. Dịch tả vịt do virus, kháng sinh không diệt virus. Tự cho uống kháng sinh chỉ tốn tiền, làm chậm việc gọi thú y và để lại tồn dư thuốc trong thịt, trứng. Mọi việc dùng thuốc phải theo chỉ định thú y.

Thịt vịt bị dịch tả có ăn được không?

Không nên ăn, không bán. Vịt chết, vịt bệnh phải xử lý theo hướng dẫn thú y. Giết thịt vịt bệnh vừa làm phát tán mầm bệnh qua lông, nước rửa, vừa có thể vi phạm quy định về phòng chống dịch.

Chuồng có dịch bao lâu thì nuôi lại được?

Tuỳ mức độ ổ bệnh và cách tiêu độc, thú y sẽ hướng dẫn thời gian để trống chuồng. Trong thời gian đó dọn sạch phân, độn, rửa và tiêu độc máng, dụng cụ, rồi mới thả lứa mới đã tiêm phòng.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.