Nuôi vịt thịt ở nông hộ, sau giai đoạn úm, gồm ba việc lặp đi lặp lại mỗi ngày: cho ăn đúng loại thức ăn theo tuổi, giữ nước sạch và nền khô, quan sát đàn để phát hiện con bất thường sớm; cuối lứa thì canh lúc vịt đủ cân, lông mọc đủ để xuất chuồng. Lứa vịt thành hay hỏng thường được quyết định từ trước khi thả: chuồng đã dọn sạch và để trống chưa, thức ăn đã tính đủ cho cả lứa chưa, đã hỏi thú y xã về lịch phòng bệnh chưa.
Bài này đi theo trình tự một lứa vịt thịt, bắt đầu từ lúc vịt con hết úm, ra chuồng nuôi. Giai đoạn úm vịt con có kỹ thuật riêng về quây, nhiệt và chất độn, không nhắc lại ở đây. Chuyện chọn nuôi khô hay nuôi có ao cũng có bài riêng; phần dưới dùng được cho cả hai cách.
Một lứa vịt thịt có những giai đoạn nào
Người nuôi lâu năm thường chia một lứa vịt thịt làm ba chặng. Chặng đầu là úm, vịt con cần sưởi, ăn thức ăn mịn giàu đạm, ở trong quây kín gió. Chặng giữa là nuôi lớn: vịt đã mọc lông che thân, chịu được nhiệt độ ngoài trời, ra chuồng và sân, ăn nhiều, lớn khung xương. Chặng cuối là vỗ: vịt gần đạt cân, ăn tăng mạnh để tích thịt, người nuôi bắt đầu canh lúc xuất.
Ranh giới giữa các chặng không tính bằng một ngày cố định mà bằng dấu hiệu trên con vịt và bằng hướng dẫn của dòng giống bạn mua. Dòng vịt thịt lớn nhanh đi hết ba chặng sớm hơn vịt cỏ, vịt lai nhiều. Vì vậy câu hỏi đầu tiên nên hỏi nơi bán giống là: dòng này nuôi bao lâu thì xuất, giai đoạn nào đổi thức ăn, cần lưu ý gì riêng.
Chia chặng giúp bạn làm hai việc cho đúng: đổi thức ăn đúng lúc, không để vịt lớn ăn mãi thức ăn đắt tiền của vịt con, cũng không đổi sớm làm vịt non thiếu đạm; và dự trù chuồng, máng, độn tăng dần theo cỡ vịt, không để đến tuần cuối mới thấy chật.
Chuẩn bị trước khi thả lứa mới
Những việc dưới đây làm trước ngày vịt về ít nhất một hai tuần. Làm vội trong ngày nhận vịt là lúc dễ sót nhất.
- Dọn hết độn cũ của lứa trước ra hố ủ, quét, rửa nền, vách, máng; để chuồng khô và trống một thời gian. Nếu thú y xã có hướng dẫn tiêu độc chuồng, làm theo đúng hướng dẫn đó.
- Kiểm tra mái, rào, rãnh thoát nước; vá lỗ chuột, lỗ chồn. Một lỗ thủng nhỏ ở góc rào là đủ cho một con chồn vào giữa đêm.
- Chuẩn bị độn khô đủ dùng cho vài tuần đầu, để nơi không hắt mưa.
- Tính lượng thức ăn cho cả lứa theo hướng dẫn của dòng giống, chia ra từng chặng, xem chỗ mua có đều hàng không. Đứt thức ăn giữa lứa rồi đổi sang loại khác đột ngột là nguyên nhân hay gặp khiến vịt chững lớn.
- Hỏi cán bộ thú y xã về các bệnh vịt đang lưu hành trong vùng và lịch tiêm phòng khuyến cáo; ghi vào sổ.
- Nếu chưa kê khai chăn nuôi với xã, hỏi thủ tục kê khai theo quy định hiện hành.
- Chuẩn bị một cuốn sổ: ngày nhận vịt, số con, nơi mua, ngày đổi thức ăn, ngày tiêm, số con chết và dấu hiệu.
Cuốn sổ nghe có vẻ thừa với vài trăm con vịt, nhưng chính nó cho bạn biết lứa sau nên đổi gì. Không có ghi chép, mỗi lứa lại bắt đầu từ trí nhớ, và trí nhớ hay đẹp hơn sự thật.
Thức ăn cho vịt thịt theo từng chặng
Bảng dưới nêu nguyên lý chung; tỉ lệ cụ thể nên theo hướng dẫn của dòng giống, nhãn bao thức ăn hỗn hợp hoặc cán bộ khuyến nông. Không có con số nào đúng cho mọi dòng vịt.
| Chặng | Thức ăn chính | Điều cần chú ý |
|---|---|---|
| Vừa hết úm | Thức ăn hỗn hợp cho vịt con hoặc cám tự trộn giàu đạm, hạt nhỏ | Đổi dần sang thức ăn chặng sau, không đổi một lần. |
| Nuôi lớn | Thức ăn hỗn hợp vịt lớn, có thể trộn thêm thóc, ngô nghiền, rau, bèo | Phần phụ phẩm tăng dần, vẫn giữ phần thức ăn đủ đạm. |
| Vỗ cuối | Tăng thức ăn giàu năng lượng như ngô, thóc, cám gạo, giữ phần đạm | Theo dõi phân và ăn uống; vịt bỏ ăn đột ngột là dấu hiệu bất thường. |
| Suốt lứa | Nước sạch không giới hạn, sạn nhỏ hoặc cát sạch nếu vịt ăn nhiều hạt | Không dùng cám mốc, ngô mốc; không dùng chất kích thích tăng trọng. |
Thức ăn hỗn hợp mua về có ghi thành phần và hướng dẫn trên bao; đó là tài liệu đáng đọc nhất bạn có trong tay. Tự trộn thì nên nhờ cán bộ khuyến nông xem công thức một lần, vì trộn theo cảm tính hay thiếu đạm, vịt lớn chậm mà ăn tốn. Mọi loại thuốc, chất bổ sung nếu dùng đều phải theo chỉ định của thú y và tuân thủ thời gian ngưng trước khi bán.
Cách cho ăn và cho uống hằng ngày
Nước có trước, thức ăn có sau. Vịt ăn mà thiếu nước dễ nghẹn, nhất là thức ăn khô dạng bột. Mỗi sáng kiểm tra máng nước đầy và sạch rồi mới đổ thức ăn.
Chia bữa đều đặn. Cho ăn đúng giờ mỗi ngày giúp vịt bớt tranh giành. Để máng trống lâu rồi đổ dồn một lần, con khoẻ ăn hết, con yếu bị chen ra, đàn sẽ không đều.
Đủ chỗ ăn cho cả đàn. Lúc đổ thức ăn, quan sát xem có con nào đứng ngoài vì không chen được vào máng. Có thì thêm máng hoặc kéo dài máng.
Đổi thức ăn trong vài ngày. Khi chuyển chặng hoặc đổi loại cám, trộn dần cũ với mới trong vài ngày. Đổi đột ngột dễ làm vịt bỏ ăn, đi phân lỏng.
Thức ăn ướt trộn trong bữa nào ăn hết bữa đó. Cám trộn với rau, bèo, nước để lâu dễ chua. Phần thừa cuối ngày cào bỏ, không để sáng hôm sau cho ăn tiếp.
Giữ kho thức ăn khô, kê cao. Bao cám đặt trên kệ gỗ, cách tường, có mái che; mở bao nào dùng hết bao đó trước. Vịt rất nhạy với độc tố nấm mốc trong ngô, cám.
Theo dõi đàn: nhìn gì, cân gì, ghi gì
Mười phút quan sát mỗi buổi sáng đáng giá hơn nhiều giờ chữa chạy về sau. Những điểm nên nhìn:
- Đàn có đều không. Đàn đều là dấu hiệu thức ăn, chỗ ăn và mật độ ổn. Thấy nhiều con còi lẫn trong đàn, xem lại chỗ ăn và sức khoẻ.
- Cân mẫu mỗi tuần. Bắt ngẫu nhiên mươi con, cân và ghi lại. So với số dòng giống ghi cho tuổi đó; chậm hơn nhiều là phải tìm nguyên nhân.
- Phân. Phân vịt vốn loãng, nhưng thay đổi màu bất thường, có máu, có nhiều nhớt xanh là dấu hiệu cần chú ý.
- Dáng đi và chân. Vịt đi khập khiễng, ngồi nhiều có thể do nền trơn, nền ướt, thiếu dinh dưỡng hoặc bệnh.
- Mắt và mũi. Mắt ướt, có ghèn thường liên quan máng nước nông hoặc chuồng nhiều bụi, khí amoniac.
- Số con chết và dấu hiệu trước khi chết. Ghi rõ. Chết rải rác một hai con khác với chết nhiều trong một hai ngày.
- Tách con yếu. Con ốm, con bị mổ, con còi cọc nên đưa ra ô riêng để theo dõi, không để chung bị chen ép.
Khi thấy vịt chết tăng đột ngột, bỏ ăn đồng loạt, sưng đầu, chảy nước mắt nhiều, hãy gọi thú y xã ngay. Đừng tự mua thuốc về thử hết loại này tới loại khác; vừa mất thời gian, vừa có thể làm bệnh lây sang cả xóm nếu đó là bệnh truyền nhiễm phải báo.
Nuôi vịt thịt mùa nóng và mùa lạnh
Vịt thịt chặng cuối mập, lông dày, chịu nóng kém. Ngày nắng gắt, đàn há mỏ thở, xoè cánh, đứng dồn quanh máng, ăn giảm. Việc nên làm: cho ăn vào sáng sớm và chiều mát, tránh đổ thức ăn giữa trưa; tăng máng nước, thay nước mát nhiều lần; che bớt nắng phần sân; mở thoáng chuồng; giảm mật độ nếu có thể. Bắt, vận chuyển vịt cũng nên làm lúc trời mát.
Mùa lạnh và mưa dầm thì ngược lại: vịt ăn nhiều hơn để giữ ấm, lớn chậm hơn, nền ướt lâu khô. Che chắn hướng gió lùa, tăng độn khô, giữ chuồng thoáng nhưng không lạnh buốt. Miền Bắc và Bắc Trung Bộ có những đợt rét đậm kéo dài, vịt nuôi trong thời gian này thường cần thêm vài tuần mới đạt cỡ xuất, nên khi tính lịch cho dịp Tết phải cộng dự phòng.
Miền Nam không có mùa rét nhưng có mùa mưa kéo dài và những tháng nóng cao điểm cuối mùa khô. Mùa mưa, vấn đề lớn nhất là nền ướt và thức ăn ẩm mốc; tháng nóng thì là chịu nóng ở chặng vỗ. Dù ở vùng nào, hãy xem dự báo thời tiết trước khi quyết định ngày thả lứa: lứa vịt rơi đúng chặng vỗ vào đợt nóng nhất hoặc rét nhất năm thường khó nuôi hơn hẳn.
Thời điểm chuyển mùa, độ ẩm và nhiệt độ thay đổi nhanh, cũng là lúc bệnh hô hấp và một số bệnh truyền nhiễm hay bùng lên. Đây là lúc nên siết lại vệ sinh chuồng, hạn chế người ra vào và hỏi thú y xã xem vùng mình có dịch gì đang lưu hành.
Xuất chuồng và bán ở mức nông hộ
Canh đúng lúc. Vịt đủ cân theo dòng giống, lông đã mọc đủ, không còn nhiều chân lông ống là lúc hợp lý. Nuôi quá lâu, vịt ăn nhiều mà tăng chậm.
Hỏi người mua trước. Quán ăn, người buôn quen, chợ xã mỗi nơi chuộng một cỡ vịt khác nhau. Hỏi trước vài tuần để biết nên xuất lúc nào, cỡ nào.
Ngưng thuốc đúng thời gian. Nếu trong lứa có dùng thuốc theo chỉ định của thú y, phải đủ thời gian ngưng thuốc trước khi bán, để không còn tồn dư trong thịt.
Bắt nhẹ tay, lúc trời mát. Dồn vịt từ từ vào góc, ôm thân, không túm một cánh hay kéo cổ. Lồng chở không nhồi chật, có che nắng.
Không bán vịt bệnh. Vịt đang ốm, đang chết rải rác không được bán chạy. Báo thú y, để họ hướng dẫn xử lý.
Tổng kết lứa vào sổ. Ghi tổng số con thả, số con xuất, số con chết, tổng thức ăn đã dùng, số ngày nuôi và giá bán thực tế. Lứa sau so lại, bạn sẽ biết chỗ nào cần sửa: con giống, thức ăn, mật độ hay thời điểm xuất. Không có con số của chính mình, mọi lời khuyên nghe được đều khó áp dụng.
Giết mổ ở nơi được kiểm soát. Bán số lượng nhiều nên qua cơ sở giết mổ được cơ quan thú y kiểm soát; bán ít cho người quen cũng nên giữ vệ sinh, không xả lông, tiết ra mương chung.
Câu hỏi thường gặp
Vịt thịt ăn bao nhiêu thì đủ?
Mỗi dòng vịt và mỗi tuổi có mức ăn khác nhau; nơi bán giống và nhãn bao thức ăn thường có bảng hướng dẫn. Cách thực tế là cho ăn đủ để máng gần hết sau bữa, theo dõi cân mẫu hằng tuần rồi điều chỉnh.
Vịt thịt có cần cho ăn rau không?
Không bắt buộc nếu dùng thức ăn hỗn hợp đầy đủ, nhưng rau, bèo sạch giúp vịt tiêu hoá tốt và giảm một phần cám. Rau phải rửa, không lấy từ ruộng vừa phun thuốc bảo vệ thực vật.
Vì sao đàn vịt lớn không đều?
Thường do chỗ ăn không đủ, con yếu bị chen ra; do mật độ quá dày; do con giống ban đầu không đều; hoặc do một số con mang bệnh. Thêm máng, tách con nhỏ nuôi riêng và xem lại nguồn giống cho lứa sau.
Có nên nuôi gối lứa, vịt lớn vịt nhỏ chung chuồng?
Không nên. Vịt lớn có thể truyền mầm bệnh cho vịt nhỏ, và chăm hai lứa khác tuổi chung chỗ rất khó. Nuôi theo kiểu cả lứa cùng vào, cùng ra, dọn chuồng trống rồi mới thả lứa mới là an toàn hơn.
Vịt bỏ ăn vài bữa thì làm gì?
Kiểm tra nước, thức ăn có mốc chua không, thời tiết có nóng bất thường không. Nếu cả đàn bỏ ăn, kèm sốt, chảy nước mắt, phân bất thường hoặc chết thêm, gọi thú y xã ngay, không tự dùng thuốc.
Nuôi vịt thịt có phải kê khai không?
Luật Chăn nuôi 2018 có quy định nông hộ chăn nuôi kê khai hoạt động chăn nuôi với chính quyền cấp xã. Mức áp dụng, mẫu kê khai có thể thay đổi theo văn bản hướng dẫn; bạn hỏi xã và kiểm văn bản hiện hành.