Nuoi.netNuôi
Nuôi vịt và ngan

Thức ăn cho vịt tận dụng ở quê: thóc, cám, ốc, bèo tấm và cách phối cho đủ chất

Vịt ăn được thóc, cám, ngô, ốc, cá tạp, bèo tấm, rau. Cách phối các nguồn sẵn có ở quê cho đủ năng lượng, đạm, khoáng và tránh thức ăn mốc, thức ăn độc.

Close-up of weathered hands scooping bright green duckweed from a small pond into a bamboo basket in Vinh Long, a few ducks waiting on the muddy bank behind

Vịt ăn được hầu hết nguồn thức ăn sẵn có ở quê: thóc, tấm, cám gạo, ngô cho năng lượng; ốc, cá tạp, tép, giun cho đạm; bèo tấm, rau muống, rau lang cho thức ăn xanh; vỏ sò, vỏ ốc nghiền cho khoáng. Phối các nguồn này cho đủ chất là bài toán chính, vì thóc ngô thì nhiều mà đạm thì thường thiếu. Cách đơn giản nhất cho nông hộ là dùng cám đậm đặc trộn với thóc ngô nhà có, theo tỉ lệ ghi trên bao, rồi bổ sung rau, bèo và mồi tươi.

Tận dụng tốt giúp giảm tiền cám, nhưng tận dụng sai thì mất cả đàn: thức ăn mốc, cá ươn, hạt giống tẩm thuốc, rau vừa phun thuốc là những nguyên nhân ngộ độc hay gặp ở vịt nông hộ. Bài này đi qua nhu cầu của vịt, từng nguồn thức ăn, cách phối, và danh sách những thứ không được cho vịt ăn.

Vịt cần những nhóm chất gì

Như mọi gia cầm, vịt cần năm nhóm: năng lượng để sống và vận động, đạm để lớn thịt và làm trứng, khoáng để làm xương và vỏ trứng, vitamin để giữ sức khoẻ, và nước. Tỉ lệ giữa các nhóm thay đổi theo tuổi và mục đích nuôi: vịt con và vịt đẻ cần khẩu phần nhiều đạm hơn vịt đang vỗ béo; vịt đẻ cần nhiều canxi hơn hẳn mọi loại vịt khác.

Khó khăn ở nông hộ là nguồn năng lượng thì dồi dào, nhà nào cũng có thóc, tấm, cám gạo, ngô; còn nguồn đạm chất lượng thì ít và thất thường. Vịt ăn toàn thóc vẫn sống, vẫn béo, nhưng lớn khung chậm, vịt đẻ đẻ ít, trứng nhỏ. Đó là lý do người nuôi lâu năm luôn tìm cách thêm đạm, từ ốc, cá vụn tới cám đậm đặc mua ngoài.

Nước là nhóm chất hay bị quên nhất vì nó rẻ. Vịt uống nhiều hơn gà, và thiếu nước thì vịt ăn kém ngay, vịt đẻ giảm trứng chỉ sau một hai ngày. Nước uống phải sạch và luôn có, đặt gần máng ăn; nước giếng, nước máy hay nước mưa trữ sạch đều được, còn nước mương có váng, có mùi thì không dùng làm nước uống.

Vịt cũng ăn nhiều nước kèm theo thức ăn và tiêu hoá nhanh, nên thức ăn ướt, nhão hợp với vịt hơn thức ăn bột khô, miễn là không để chua. Vịt không có răng, nuốt nguyên hạt; hạt to, cứng cần nghiền hoặc ngâm cho vịt nhỏ.

Các nguồn thức ăn sẵn có ở quê

Bảng dưới gom các nguồn phổ biến ở nông thôn, xếp theo nhóm chất chính. Giá trị dinh dưỡng thay đổi theo chất lượng từng mẻ, nên coi đây là định hướng, không phải công thức.

NguồnNhóm chất chínhCách dùng an toàn
Thóc, thóc lépNăng lượngThóc khô, sạch; vịt nhỏ thì nghiền hoặc ngâm cho mềm.
Tấm, cám gạoNăng lượngCám gạo dễ ôi dầu, mua vừa đủ, dùng nhanh.
Ngô hạt, ngô nghiềnNăng lượngKiểm tra mốc kỹ; ngô mốc là nguồn độc tố nguy hiểm cho vịt.
Sắn (khoai mì)Năng lượngSắn tươi có chất độc tự nhiên; chỉ dùng sắn đã phơi khô hoặc xử lý kỹ, cho lượng vừa phải.
Ốc, hến, cua đồngĐạm, khoángĐập dập cho vịt nhỏ; tránh ốc nhặt ở ruộng vừa phun thuốc.
Cá tạp, tépĐạmDùng tươi, nấu chín nếu không chắc độ tươi; cá ươn gây ngộ độc.
Giun, trùn quếĐạmNguồn đạm tốt, rửa sạch đất phân trước khi cho ăn.
Bèo tấm, rau muống, rau langThức ăn xanh, vitaminRửa sạch, băm vừa; nguồn nước trồng bèo phải sạch.
Vỏ sò, vỏ ốc nghiền, đá vôi hạtCanxiĐể máng riêng cho vịt tự ăn, nhất là vịt đẻ.

Ốc bươu vàng thu gom từ ruộng lúa nhiều nơi dùng làm thức ăn cho vịt. Đây là loài ngoại lai gây hại cho lúa; dùng ốc thu gom làm thức ăn là cách tận dụng, nhưng tuyệt đối không nuôi, không thả, không mang ốc sống đi nơi khác.

Ốc, cá tạp và mồi tươi: dùng sao cho an toàn

Biết nguồn gốc. Ốc, cua nhặt ở ruộng vừa phun thuốc trừ ốc, trừ sâu có thể mang thuốc trong thân. Chỉ nhặt ở nơi biết chắc không phun gần đây.

Tươi mới dùng. Cá tạp, tép, ruột cá từ chợ phải dùng trong ngày. Cá có mùi hôi, thịt nhũn là bỏ, không tiếc. Không chắc độ tươi thì nấu chín rồi để nguội mới trộn.

Cỡ vừa với vịt. Vịt nhỏ nuốt ốc cả vỏ to có thể nghẹn; đập dập hoặc băm nhỏ. Vịt lớn tự ăn ốc nhỏ nguyên con được.

Không để mồi tươi qua đêm. Mồi tươi trộn cám để qua đêm, nhất là mùa nóng, lên men rất nhanh. Trộn bữa nào hết bữa đó.

Nấu chín phụ phẩm lò mổ. Lòng, tiết, phụ phẩm từ lò mổ gia súc gia cầm có thể mang mầm bệnh, kể cả mầm bệnh nguy hiểm cho đàn. Nếu dùng, phải nấu chín kỹ, và không lấy phụ phẩm của gia cầm không rõ nguồn gốc về cho vịt ăn.

Rửa giun, trùn quế. Trùn quế nuôi trên phân chuồng ủ cần rửa sạch phần đất phân trước khi cho vịt ăn, tránh đưa mầm bệnh trở lại đàn.

Bèo tấm: nguồn thức ăn xanh đáng giữ

Bèo tấm là loại bèo hạt nhỏ, nổi kín mặt nước tĩnh, mọc rất nhanh khi nước có đủ chất dinh dưỡng. Với vịt, bèo tấm là thức ăn xanh lý tưởng: hạt nhỏ, mềm, vịt nuốt dễ, nhiều nước, có lượng đạm đáng kể so với các loại rau khác. Nhiều hộ dành riêng một ao nhỏ, một mương hay vài bể lót bạt để trồng bèo tấm, vớt hằng ngày cho vịt ăn.

Vài điều nên biết: bèo hút chất trong nước rất mạnh, nên nước trồng bèo phải sạch, không dùng nước thải công nghiệp, nước từ ruộng vừa phun thuốc; bèo trồng ở nước ô nhiễm sẽ mang theo chất ô nhiễm vào vịt. Ao trồng bèo nên tách riêng khỏi ao vịt bơi, vì vịt vào là ăn trụi và làm đục nước. Vớt bèo vừa đủ cho một hai bữa, để ráo rồi cho ăn tươi hoặc trộn với cám.

Bèo tấm không thay được thức ăn tinh. Vịt ăn quá nhiều bèo mà ít thóc, cám sẽ no bụng nhưng thiếu năng lượng, chậm lớn. Coi bèo là phần bổ sung giúp vịt khoẻ và giảm một phần cám, không phải nguồn thức ăn chính. Với ngan, vốn ăn rau giỏi hơn vịt, phần bèo, rau trong khẩu phần có thể cao hơn, nhưng ngan non vẫn cần đủ cám để lớn khung.

Phối khẩu phần tự trộn cho nông hộ

Cách phổ biến và an toàn nhất là dùng cám đậm đặc làm nền đạm, trộn với nguồn năng lượng nhà có. Trình tự dưới đây là khung chung; con số cụ thể theo hướng dẫn trên bao và tư vấn của cán bộ khuyến nông.

  1. Xác định đàn đang ở giai đoạn nào: vịt con sau úm, vịt nuôi lớn, vịt vỗ, hay vịt đẻ. Mỗi giai đoạn dùng loại cám đậm đặc hoặc thức ăn hỗn hợp khác nhau.
  2. Đọc tỉ lệ pha ghi trên bao cám đậm đặc: bao thường ghi bao nhiêu phần cám đậm đặc trộn với bao nhiêu phần ngô, thóc, tấm hoặc cám gạo.
  3. Cân hoặc đong bằng một dụng cụ cố định, không ước lượng bằng mắt. Trộn đều phần khô trước.
  4. Thêm mồi tươi, rau, bèo vào phần đã trộn ngay trước bữa ăn, lượng vừa đủ cho một bữa.
  5. Để máng vỏ sò, đá vôi hạt riêng nếu nuôi vịt đẻ.
  6. Ghi lại công thức đã dùng, theo dõi cân mẫu, số trứng trong một hai tuần; nếu vịt chậm lớn, đẻ kém, nhờ cán bộ khuyến nông xem lại.

Ví dụ giả định: một hộ nuôi vịt thịt giai đoạn nuôi lớn, bao cám đậm đặc hướng dẫn trộn một phần cám với vài phần ngô và tấm. Hộ đó có thể thay một phần tấm bằng thóc nhà, cộng thêm bèo tấm, nhưng vẫn giữ nguyên phần cám đậm đặc, vì đó là nguồn đạm chính. Bớt phần đậm đặc để tiết kiệm thường là tiết kiệm sai chỗ.

Bảo quản thức ăn ở nông hộ

Phần lớn ca ngộ độc thức ăn ở vịt nông hộ không bắt nguồn từ thức ăn xấu lúc mua, mà từ cách cất giữ sau khi mua. Kho chứa cám thường là góc nhà kho, gian bếp hay chái chuồng, nơi ẩm, nóng, có chuột. Vài tuần mùa nồm là đủ để bao ngô, bao cám bắt đầu mốc từ phía chạm đất, chạm tường.

Cách làm đơn giản: kê bao lên kệ gỗ hoặc pallet, cách tường một khoảng; kho có mái che kín mưa, thoáng gió; mua vừa đủ dùng trong thời gian ngắn thay vì trữ cả mùa; bao nào mở trước dùng trước; cột kín miệng bao sau mỗi lần lấy. Thóc, ngô nhà làm ra nên phơi thật khô trước khi cất, đựng trong thùng có nắp để chặn chuột, mọt. Chuột vừa ăn hao thức ăn vừa làm bẩn bằng phân, nước tiểu, mang mầm bệnh vào kho.

Thức ăn đã trộn ướt không bảo quản được; chỉ trộn đủ cho một bữa. Máng ăn cuối ngày còn thừa thì cào bỏ, rửa máng. Một lần dọn máng mỗi tối là rẻ hơn nhiều so với một lần mất đàn vì vịt ăn phải cám chua.

Những thứ không được cho vịt ăn

Danh sách dưới đây gồm những nguyên nhân ngộ độc và bệnh hay gặp ở vịt nông hộ. Nhiều thứ trông vô hại nhưng gây chết hàng loạt.

  • Ngô, cám, thóc mốc: vịt thuộc nhóm gia cầm nhạy nhất với độc tố nấm mốc trong ngũ cốc. Hạt có đốm xanh, đen, vón cục, mùi mốc là bỏ.
  • Hạt giống đã tẩm thuốc: lúa giống, ngô giống thừa sau khi gieo thường đã tẩm thuốc chống sâu, nấm, không bao giờ được dùng làm thức ăn.
  • Rau, cỏ vừa phun thuốc và ốc, cua nhặt ở ruộng vừa phun.
  • Cá ươn, thức ăn thừa ôi thiu từ quán ăn, nhất là đồ đã để qua đêm.
  • Đồ ăn thừa nhiều muối: cơm canh mặn, cá kho, mắm. Vịt ăn quá nhiều muối dễ ngộ độc.
  • Sắn tươi chưa xử lý và vỏ sắn tươi.
  • Chất kích thích, chất tăng trọng không rõ nguồn gốc: vừa nguy hiểm cho vịt, vừa có thể vi phạm quy định về chất cấm trong chăn nuôi.

Nếu nghi vịt ngộ độc thức ăn, ngưng ngay loại thức ăn vừa đổi, cho uống nước sạch, giữ lại một ít mẫu thức ăn đó và gọi thú y xã. Mẫu thức ăn giúp xác định nguyên nhân, nhất là khi bạn mua cám ở nơi khác về.

Câu hỏi thường gặp

Cho vịt ăn toàn thóc có được không?

Vịt vẫn sống và béo, nhưng thiếu đạm và khoáng nên lớn khung chậm, vịt đẻ đẻ ít, trứng nhỏ. Thóc nên là phần năng lượng, cần thêm cám đậm đặc hoặc mồi tươi như ốc, cá tạp, giun để đủ đạm.

Vịt có ăn cơm nguội được không?

Ăn được nếu cơm còn mới, không chua, không trộn đồ mặn. Cơm thừa đã lên men, có mùi chua hoặc trộn canh, cá kho thì không nên cho ăn. Cơm chỉ là nguồn năng lượng, không thay được đạm.

Bèo tây (lục bình) có cho vịt ăn được không?

Vịt có thể mổ lá non, nhưng bèo tây xơ, nhiều nước, giá trị dinh dưỡng thấp hơn bèo tấm nhiều. Dùng bèo tây chủ yếu để che mát mặt ao, không nên coi là nguồn thức ăn chính của vịt.

Làm sao biết ngô, cám bị nhiễm độc tố nấm mốc?

Mốc nặng thì nhìn và ngửi thấy: đốm màu, vón cục, mùi hôi mốc. Nhưng độc tố có thể có cả khi mắt thường chưa thấy rõ. Mua ở nơi tin cậy, bảo quản khô, dùng nhanh là cách phòng thực tế nhất ở nông hộ.

Vịt ăn nhiều ốc có tốt không?

Ốc là nguồn đạm và canxi tốt, nhưng chỉ an toàn khi nhặt ở nơi không phun thuốc gần đây. Vịt nhỏ cần đập dập ốc để tránh nghẹn. Ốc chỉ là phần bổ sung, vẫn cần thóc, cám cho đủ năng lượng.

Có cần cho vịt ăn sạn, cát không?

Vịt dùng sạn nhỏ trong mề để nghiền thức ăn hạt. Vịt thả vườn, chạy đồng tự tìm được; vịt nuôi nhốt ăn nhiều hạt nguyên có thể đặt một máng sạn nhỏ hoặc cát sạch. Vịt ăn thức ăn viên hỗn hợp ít cần hơn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.