Nuôi vịt chạy đồng là lùa đàn vịt theo mùa gặt, cho vịt ăn thóc rơi, ốc, cua, côn trùng trên ruộng vừa gặt, tối về lều trại tạm hoặc chuồng gần đồng. Cách nuôi này giảm được nhiều thức ăn mua, vịt khoẻ và chắc thịt, nhưng có ba rủi ro lớn mà vịt nuôi nhốt không gặp: ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật, lây bệnh khi đàn đi qua nhiều vùng, và tranh chấp với chủ ruộng.
Ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng Bắc Bộ, chạy vịt đồng là nghề có từ lâu, nhiều nhà truyền từ đời cha sang đời con. Người mới vào nghề thường học bằng cách đi theo một người chạy vịt quen việc vài mùa. Bài này không thay được chuyện đó, nhưng gom lại những nguyên tắc chính để bạn biết phải hỏi gì, phải để ý gì trên đồng.
Chạy đồng hợp với ai và với loại vịt nào
Chạy đồng hợp với vùng trồng lúa tập trung, gặt nối tiếp nhau giữa các cánh đồng, và với người có thời gian theo đàn cả ngày. Nghề này gần như là một công việc toàn thời gian trong mùa: sáng lùa vịt ra đồng, trưa cho nghỉ chỗ mát, chiều lùa về, tối canh lều. Hộ chỉ có vài chục con vịt thả quanh nhà không phải là chạy đồng theo nghĩa này, dù cũng tận dụng ruộng gần nhà.
Về loại vịt, các dòng vịt cỏ, vịt địa phương và một số dòng vịt đẻ nhanh nhẹn, đi đường tốt, chịu kiếm ăn hợp với chạy đồng. Dòng vịt thịt lớn nhanh thân nặng, chân yếu khi về cuối, đi xa kém và dễ kiệt sức dưới nắng, nên ít người đem chạy đồng đường dài. Vịt cũng phải đủ lớn, lông đã che kín thân, mới chịu được sương đêm và nắng đồng; vịt quá nhỏ chưa thể theo đàn.
Một điều nữa cần tính trước là đầu ra. Vịt chạy đồng thường được thương lái mua tại đồng vào cuối mùa; người mới chưa có mối quen dễ rơi vào cảnh vịt đã đủ cân mà chưa ai mua, đồng thì đã hết thóc, phải mua thêm cám nuôi chờ. Hỏi trước những người chạy vịt trong vùng về cách bán, thời điểm bán là việc nên làm trước khi mua con giống.
Nhiều người chạy đồng nuôi vịt đẻ: ban ngày ra đồng ăn thóc rơi, ban đêm về lều đẻ trứng. Khi đó, giờ thả buổi sáng phải tính sau lúc vịt đẻ xong, và lều phải có chỗ đẻ khô ráo.
Chọn ruộng và thoả thuận với chủ ruộng
Ruộng không phải của mình, nên trước khi lùa vịt vào, việc đầu tiên là nói chuyện với chủ ruộng hoặc tổ hợp tác, ban quản lý cánh đồng nếu có. Những điểm nên rõ ràng từ đầu:
- Ruộng đã gặt xong chưa, có thửa nào bên cạnh vẫn còn lúa chín chưa gặt không. Vịt vào lúa chưa gặt là mất lòng chủ ruộng ngay.
- Ruộng bên cạnh có đang gieo sạ hay cấy mạ không. Vịt rất thích mạ non và hạt giống vừa gieo; một đàn vịt đi qua ruộng mới sạ có thể gây thiệt hại lớn.
- Lần phun thuốc gần nhất trên ruộng đó và các ruộng xung quanh, là loại thuốc gì nếu chủ ruộng nhớ.
- Ranh giới được phép đi, bờ nào được đi, mương nào không được xuống.
- Chỗ dựng lều trại, chỗ lấy nước, chỗ đổ rác, phân để không làm phiền nhà dân gần đó.
- Thời gian ở lại trên cánh đồng, để chủ ruộng biết khi nào bắt đầu làm đất vụ sau.
Thoả thuận rõ ràng ngay từ đầu đỡ cãi nhau về sau. Ở nhiều vùng, người chạy vịt quen biết các chủ ruộng qua nhiều mùa, mỗi năm lại quay về đúng cánh đồng đó; giữ uy tín với họ là giữ được đồng cho những mùa sau.
Thuốc bảo vệ thực vật: rủi ro lớn nhất trên đồng
Ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật là cách mất đàn nhanh nhất của người chạy vịt. Vịt ăn ốc, cua, côn trùng hoặc thóc vừa dính thuốc, uống nước đọng trong ruộng vừa phun, có thể ngộ độc hàng loạt. Thuốc trừ ốc và một số thuốc trừ sâu đặc biệt nguy hiểm vì chính thứ vịt thích ăn nhất, là ốc, lại là thứ bị đánh thuốc.
Cách phòng là hỏi và quan sát. Hỏi chủ ruộng lần phun gần nhất; nhìn bờ ruộng xem có vỏ chai, vỏ gói thuốc mới vứt không; ngửi mùi thuốc trên ruộng; nhìn ốc, cá, ếch chết bất thường trên mặt ruộng. Thấy dấu hiệu nghi ngờ thì lùa đàn tránh sang chỗ khác, dù ruộng đó nhiều thóc rơi tới đâu. Thời gian cách ly ghi trên nhãn thuốc là thời gian tối thiểu cho cây trồng, không phải là bảo đảm an toàn cho vịt.
Vịt ngộ độc thường có biểu hiện đột ngột và nhiều con cùng lúc: đi loạng choạng, run, liệt chân, chảy dãi, nằm nghiêng, chết gần nhau trên cùng một khu ruộng. Khi đó, lùa ngay số còn lại ra khỏi khu vực, cho uống nước sạch, báo thú y xã để được hướng dẫn. Vịt nghi ngộ độc tuyệt đối không bán làm thịt, và vịt chết phải xử lý theo hướng dẫn, không vứt xuống kênh.
Quản đàn trên đồng
Tập đàn quen tín hiệu. Người chạy vịt thường dùng một cây sào dài và tiếng gọi riêng, đàn quen dần thì nghe tiếng là tụ lại, đi theo. Vịt đầu đàn quen đường giúp cả đàn đi gọn.
Đi chậm, không dồn ép. Lùa vịt quá nhanh dưới nắng làm vịt kiệt sức, giẫm nhau ở chỗ hẹp như bờ ruộng, cống nhỏ. Đi theo nhịp vịt ăn, chỉ lùa khi cần chuyển thửa.
Nghỉ trưa chỗ mát, có nước. Giữa trưa nắng gắt, cho đàn nghỉ dưới bóng cây, bờ tre hoặc dưới lưới che dựng tạm, gần nguồn nước sạch.
Mang nước sạch. Nước đọng trong ruộng có thể nhiễm thuốc, nhiễm mầm bệnh từ đàn khác. Mang can nước, máng gấp gọn cho vịt uống ở lều và chỗ nghỉ.
Đếm đàn hai lần mỗi ngày. Lúc ra đồng và lúc về lều. Hụt con thì quay lại tìm ngay khi trời còn sáng; vịt lạc đêm dễ thành mồi cho chó, chồn.
Tách con yếu ra khỏi đàn đi. Con đi chậm, khập khiễng, ủ rũ sẽ tụt lại sau và dễ lạc. Để chúng ở lều với một ít thức ăn, nước sạch, theo dõi riêng; con ốm nặng hoặc nhiều con cùng ốm thì báo thú y.
Lều trại chắc và có người canh. Lưới quây đủ cao, cọc chắc, có mái che mưa. Ban đêm vịt hoảng vì chó, rắn hay đèn rọi sẽ giẫm đạp, chết ngạt ở góc quây.
Đồng nghèo thì bổ sung thức ăn thế nào
Không phải cánh đồng nào cũng đủ cho đàn ăn no. Dấu hiệu đồng đã nghèo là vịt kiếm ăn lâu mà diều vẫn lép, đàn tản rộng, vịt đẻ giảm trứng. Bảng dưới gợi ý cách xử lý theo tình huống.
| Tình huống trên đồng | Dấu hiệu ở đàn | Việc nên làm |
|---|---|---|
| Đồng mới gặt, nhiều thóc rơi | Diều căng khi về, đàn đi gọn | Không cần bổ sung nhiều, chỉ giữ nước sạch và canxi cho vịt đẻ. |
| Đồng đã có đàn khác đi qua | Kiếm ăn lâu, diều lép | Cho ăn thêm thóc hoặc cám ở lều buổi chiều, tìm cánh đồng khác. |
| Đồng ngập nước sau mưa lớn | Vịt bơi nhiều, ăn ít hạt | Bổ sung thức ăn tinh, chú ý ốc, cá chết trôi dạt có thể là dấu hiệu nước ô nhiễm. |
| Cuối mùa, giữa hai vụ | Đàn sụt cân, đẻ giảm | Chuyển sang nuôi nhốt tạm với thức ăn đầy đủ, chờ vụ gặt sau. |
Thóc rơi trên đồng là nguồn năng lượng tốt nhưng thiếu đạm và khoáng cho vịt đẻ; ốc, côn trùng bù một phần đạm. Vì vậy vịt đẻ chạy đồng vẫn cần máng vỏ sò hoặc đá vôi hạt ở lều để vịt tự ăn vào buổi tối.
Dịch bệnh và kiểm dịch khi đàn di chuyển
Đàn vịt chạy đồng đi qua nhiều xã, có khi qua nhiều tỉnh, gặp đàn vịt khác, gặp chim hoang dã và dùng chung nguồn nước kênh rạch. Đây là điều kiện thuận lợi để các bệnh như cúm gia cầm, dịch tả vịt lây lan. Một đàn vịt mang bệnh đi qua cả một vùng có thể gieo bệnh cho nhiều đàn khác, nên trách nhiệm của người chạy vịt lớn hơn người nuôi nhốt.
Trước mùa chạy đồng, hỏi thú y xã nơi xuất phát về các bệnh cần tiêm phòng và làm theo hướng dẫn, giữ lại giấy tờ tiêm phòng. Theo Luật Thú y 2015, động vật vận chuyển ra khỏi phạm vi tỉnh phải được kiểm dịch; vận chuyển trong tỉnh cũng có thể có quy định riêng của địa phương. Thủ tục cụ thể, cơ quan làm kiểm dịch và giấy tờ cần mang theo, bạn hỏi thú y địa phương và kiểm văn bản hiện hành, vì quy định có thể đã thay đổi.
Khi trên đồng có vịt chết bất thường, sưng đầu, chảy nước mắt, phân xanh, bỏ ăn đồng loạt, hãy dừng di chuyển, giữ đàn tại chỗ và báo ngay thú y xã nơi đang đứng. Đừng lùa đàn đi chỗ khác để tránh, cũng đừng bán chạy cho thương lái; làm vậy là mang bệnh sang vùng mới và có thể vi phạm quy định về phòng chống dịch.
Một ngày làm việc của người chạy vịt đồng
Mỗi người có nhịp riêng, nhưng một ngày làm việc thường đi theo trình tự dưới đây. Nắm được trình tự này, người mới sẽ biết lúc nào cần chú ý điều gì.
- Sáng sớm: kiểm tra lều, đếm đàn, nhặt trứng nếu nuôi vịt đẻ, nhìn xem con nào ủ rũ, bỏ ăn để tách riêng.
- Sau khi vịt đẻ xong: lùa ra thửa ruộng đã chọn, trước đó đi xem qua ruộng một lượt để chắc không có dấu hiệu thuốc.
- Giữa buổi: đi theo đàn, giữ đàn trong ranh giới đã thoả thuận, không để vịt sang ruộng chưa gặt hoặc mới sạ.
- Trưa: đưa đàn về chỗ nghỉ có bóng mát và nước sạch, tránh nắng gắt.
- Chiều: cho ăn tiếp ở thửa khác, đánh giá xem đồng còn đủ cho mấy ngày.
- Chiều muộn: lùa về lều, đếm đàn, cho ăn bổ sung nếu cần, rải vỏ sò cho vịt đẻ.
- Tối: kiểm tra quây, canh thú dữ, ghi lại số con, số trứng và những gì bất thường trong ngày.
Cuốn sổ ghi chép ngày ở đâu, ruộng của ai, có gì bất thường giúp ích rất nhiều khi có chuyện: nếu đàn bệnh, thú y cần biết đàn đã đi qua những đâu; nếu có tranh chấp, bạn có ghi chép để nói chuyện với chủ ruộng.
Câu hỏi thường gặp
Vịt chạy đồng có cần tiêm phòng không?
Cần, và thường còn cần hơn vịt nuôi nhốt vì đàn đi qua nhiều vùng, gặp nhiều đàn khác. Lịch tiêm và loại vắc-xin theo hướng dẫn của cán bộ thú y nơi bạn xuất phát; giữ giấy tờ tiêm để xuất trình khi cần.
Làm sao biết ruộng vừa phun thuốc?
Hỏi chủ ruộng là chắc nhất. Ngoài ra để ý vỏ chai, vỏ gói thuốc mới vứt trên bờ, mùi thuốc, ốc, cá, ếch chết bất thường. Nghi ngờ thì tránh hẳn thửa đó, không đánh cược cả đàn.
Vịt chạy đồng có ngon hơn vịt nuôi nhốt không?
Nhiều người chuộng vịt chạy đồng vì thịt chắc, ít mỡ do vận động nhiều. Đây là cảm nhận phổ biến của người mua, nhưng chất lượng còn phụ thuộc tuổi, dòng vịt và cách nuôi, nên không nên quảng cáo quá mức khi bán.
Chạy vịt qua tỉnh khác cần giấy gì?
Theo Luật Thú y 2015, động vật vận chuyển ra khỏi tỉnh phải được kiểm dịch. Loại giấy, nơi cấp và thời hạn có thể thay đổi theo văn bản hướng dẫn, nên hỏi thú y địa phương trước khi đi và kiểm văn bản hiện hành.
Đàn vịt ăn mất lúa của người khác thì xử lý thế nào?
Nên chủ động gặp chủ ruộng, xin lỗi và thoả thuận bồi thường hợp lý. Để tránh chuyện này, luôn đi trước đàn khi qua gần ruộng chưa gặt, giữ đàn gọn và không lùa vịt vào lúc mình không theo sát được.
Có nên cho vịt uống nước kênh rạch trên đồng?
Hạn chế. Nước kênh có thể nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, nước thải và mầm bệnh từ đàn khác. Mang nước sạch theo và cho uống ở lều, chỗ nghỉ trưa là cách an toàn hơn, nhất là khi trong vùng đang có dịch.