Ngan, miền Nam gọi là vịt xiêm, là một loài khác hẳn vịt nhà: ít ham nước, kêu khàn nhỏ thay vì quạc to, thích đậu chỗ cao, ăn nhiều rau xanh, ngan trống to hơn ngan mái rất nhiều, và thường cần thời gian nuôi dài hơn vịt thịt. Vì vậy ngan hợp với hộ không có ao, sống gần hàng xóm, có sẵn rau cỏ, còn vịt hợp với hộ có ao, mương hoặc đồng ruộng sau gặt.
Người mới hay nghĩ ngan là "vịt to", nuôi y như vịt. Cách nghĩ đó dẫn tới chuồng sai, máng sai và nhiều chuyện khó hiểu như ngan bay qua rào, ngan mổ nhau trụi lưng. Bài này so hai con nuôi theo từng mặt mà người nuôi nông hộ gặp hằng ngày, để bạn chọn đúng con trước khi bỏ công làm chuồng.
Ngan và vịt là hai loài khác nhau
Vịt nhà ở Việt Nam, từ vịt cỏ tới các dòng vịt thịt, vịt đẻ, đều có nguồn gốc từ vịt trời cổ xanh. Ngan có nguồn gốc từ một loài vịt rừng ở châu Mỹ nhiệt đới, được thuần hoá từ lâu và đưa sang nhiều nơi. Hai loài cùng họ vịt nhưng khác chi, khác tập tính, khác cả hình dáng: ngan có mảng da sần đỏ quanh mắt và gốc mỏ, móng chân sắc, đuôi dài hơn, thân bè ngang.
Sự khác loài này có ý nghĩa thực tế. Thứ nhất, kinh nghiệm nuôi vịt chỉ áp dụng được một phần cho ngan. Thứ hai, khi nghe người bán nói về "ngan lai vịt" hay con lai giữa hai loài, bạn nên hiểu đó là chuyện của khâu giống và sinh sản, thuộc một lĩnh vực khác, không nằm trong phạm vi nuôi thịt ở nông hộ. Bài này chỉ bàn về nuôi ngan và nuôi vịt đã mua về dưới dạng con giống đã nở.
Thứ ba, sức khoẻ của ngan và vịt phản ứng khác nhau với môi trường. Vịt chịu được nền ẩm, mưa dầm tốt hơn nếu có nước sạch; ngan chịu nắng khá nhưng không ưa nền lầy lội, dễ bị viêm chân, bẩn lông bụng khi chuồng ướt. Con non của cả hai đều sợ lạnh và gió lùa, nên giai đoạn úm làm theo hướng dẫn riêng, còn từ khi ra chuồng nuôi thì cách giữ chuồng mới bắt đầu khác nhau.
Thứ ba, hai loài nhạy với một số bệnh ở mức khác nhau, nên lịch phòng bệnh do cán bộ thú y hướng dẫn cho vịt không tự động dùng được cho ngan. Khi hỏi thú y, hãy nói rõ bạn nuôi ngan hay vịt, bao nhiêu ngày tuổi.
So sánh nhanh ngan và vịt ở nông hộ
Bảng dưới gom những khác biệt mà người nuôi gặp nhiều nhất. Mức độ ghi theo xu hướng chung; từng dòng giống cụ thể có thể lệch.
| Mặt so sánh | Ngan | Vịt |
|---|---|---|
| Nhu cầu nước | Thấp, chủ yếu uống và nhúng mỏ | Cao, thích bơi lội, nghịch nước |
| Tiếng kêu | Khàn, nhỏ, ít gây ồn | Quạc to, nhất là vịt mái và lúc đói |
| Khả năng bay | Ngan mái nhẹ bay được qua rào thấp | Hầu như không bay |
| Chỗ ngủ ưa thích | Thích đậu trên giàn, gióng gỗ cao | Nằm sát nền |
| Thức ăn xanh | Ăn rất nhiều rau, cỏ, bèo | Có ăn nhưng ít hơn, ưa thức ăn tinh, mồi |
| Chênh lệch trống mái | Trống to hơn mái rất nhiều | Chênh ít |
| Thời gian nuôi thịt | Thường dài hơn | Dòng vịt thịt lớn nhanh, xuất sớm |
| Tính khí | Hay mổ nhau khi chật, trống có thể hung | Hiền, đi theo đàn |
Chênh lệch trống mái là điểm người nuôi ngan phải tính từ đầu: nuôi lẫn trống mái đến lúc xuất bán, hai nhóm lệch cân rõ, ngan mái thường đạt cỡ bán sớm hơn. Nhiều hộ tách trống mái từ khi phân biệt được để cho ăn và xuất bán theo nhóm.
Chuồng nuôi ngan khác chuồng vịt ở đâu
Có giàn đậu. Ngan thích ngủ trên cao. Một vài gióng gỗ hoặc tre đặt thấp, chắc chắn, giúp ngan bớt nằm trên nền ẩm và đỡ giẫm đạp nhau. Vịt thì không cần thứ này.
Rào cao hơn hoặc có lưới trên đỉnh. Ngan mái bay qua rào thấp khá dễ, ra vườn nhà bên phá rau là chuyện thường. Hoặc rào cao, hoặc căng lưới trên sân. Một số hộ cắt tỉa lông cánh một bên cho ngan; nếu làm, chỉ cắt phần lông bay ở mút cánh, không chạm phần có mạch máu, và nên nhờ người có kinh nghiệm chỉ lần đầu.
Nền có thể khô hơn chuồng vịt. Vì ngan ít nghịch nước, chất độn giữ khô lâu hơn. Tuy vậy, phân ngan vẫn loãng hơn phân gà, nên vẫn phải đảo độn đều.
Không gian để tránh mổ nhau. Ngan nuôi chật dễ mổ lông lưng, lông đuôi của nhau, có khi chảy máu. Chuồng nên có góc khuất, có rau treo cho ngan mổ chơi và mật độ thưa hơn mức bạn định cho vịt cùng cân nặng.
Máng uống đủ sâu nhưng không cần khu tắm. Ngan vẫn cần nhúng mỏ, rửa mắt. Một máng sâu là đủ; không cần làm khu tắm như cho vịt.
Thức ăn: ngan ăn rau, vịt ăn mồi
Khác biệt lớn thứ hai nằm ở khẩu phần. Ngan ăn thức ăn xanh rất giỏi: rau muống, rau lang, bèo tấm, cỏ non băm nhỏ đều được ngan ăn hết. Ở nông hộ, phần rau này giúp giảm lượng cám mua, nhưng không thay được hoàn toàn cám hoặc thóc ngô, vì rau nhiều nước, ít năng lượng. Ngan non vẫn cần thức ăn tinh đủ đạm để lớn khung, rau chỉ là phần bổ sung tăng dần theo tuổi.
Vịt thì ưa thức ăn tinh và mồi động vật: thóc, ngô, cám, ốc, tép, giun. Vịt ăn nhanh, ăn nhiều nước, làm bẩn máng hơn ngan. Nếu bạn có ao, mương nhiều ốc, bèo, vịt tận dụng được nguồn này tốt hơn ngan; nếu bạn có vườn rau, ruộng rau lang, ngan tận dụng phụ phẩm rau tốt hơn vịt.
Với cả hai, thức ăn tinh phải khô, không mốc. Ngô, cám để lâu trong kho ẩm dễ nhiễm nấm sinh độc tố, và gia cầm họ vịt nhạy với các độc tố này hơn gà. Rau cho ăn nên rửa, để ráo, băm vừa miếng; rau vườn mới phun thuốc bảo vệ thực vật thì tuyệt đối không cắt cho ăn khi chưa qua thời gian cách ly ghi trên bao bì thuốc.
Thời gian nuôi và lúc nên xuất bán
Vịt thịt các dòng lớn nhanh có vòng nuôi ngắn nhất; vịt cỏ, vịt chạy đồng chậm hơn; ngan thường lâu hơn nữa, trong đó ngan mái đạt cỡ bán sớm hơn ngan trống vài tuần. Con số cụ thể thay đổi theo dòng giống, khẩu phần và mùa, nên bạn nên hỏi nơi bán con giống về thời gian nuôi dự kiến của đúng dòng đó, rồi tự ghi chép cân mẫu vài con mỗi tuần để có số của chính nhà mình.
Có hai điểm người mới hay bỏ qua. Thứ nhất, càng về cuối lứa, mỗi ký tăng thêm tốn nhiều thức ăn hơn lúc đầu, nên nuôi kéo dài quá điểm bán thường không có lợi, trừ khi đang chờ một dịp bán cụ thể. Thứ hai là bộ lông: vịt và ngan đang lúc mọc lông mới, chân lông còn nhiều ống, khi làm thịt rất khó sạch, người mua chợ hay quán quen thường chê. Người nuôi lâu năm canh lúc lông đã mọc đủ, sờ lưng thấy mượt, mới xuất.
Nếu bán vào dịp Tết hay rằm, hãy tính lùi từ ngày bán ra ngày thả con giống, cộng thêm vài tuần dự phòng vì thời tiết lạnh làm con nuôi chậm lớn. Bán ở mức nông hộ thì nên hỏi trước vài mối quen, quán ăn trong xã; đến lúc xuất mới đi tìm người mua thường bị ép giá hoặc phải bán dồn.
Chọn ngan hay vịt: câu hỏi nên tự trả lời trước
Không có con nào tốt hơn tuyệt đối. Trả lời mấy câu dưới đây, bạn sẽ thấy con nào hợp hoàn cảnh nhà mình:
- Nhà có ao, mương riêng không? Có ao riêng, nước không dùng chung với xóm thì vịt tận dụng tốt. Không có ao hoặc ao đang nuôi cá cần giữ sạch thì ngan nhẹ việc hơn.
- Nhà sát vách hàng xóm không? Tiếng vịt quạc lúc rạng sáng là nguồn phàn nàn thường gặp; ngan yên lặng hơn nhiều.
- Nguồn thức ăn sẵn có là gì? Nhiều rau, bèo, cỏ thì ngan; nhiều thóc rơi, ốc, tép thì vịt.
- Bạn muốn quay vòng nhanh hay chậm? Vịt thịt dòng lớn nhanh xuất sớm, vòng vốn ngắn; ngan nuôi lâu hơn.
- Bán cho ai? Ở nhiều vùng, thịt ngan và thịt vịt có khách quen riêng, mùa riêng. Hỏi chợ, quán gần nhà trước khi nuôi.
- Muốn lấy trứng không? Nếu mục tiêu là trứng ăn hằng ngày, vịt đẻ cho nhiều trứng hơn ngan rất nhiều.
Nhiều hộ nuôi cả hai nhưng nhốt riêng: vịt ở khu gần nước, ngan ở khu khô. Nuôi chung một sân thì ngan trống to khoẻ thường lấn vịt ở máng ăn, và hai loài có nhu cầu nước, nền khác nhau nên khó chăm cho vừa cả hai.
Phòng bệnh và an toàn sinh học cho cả hai
Ngan và vịt đều là gia cầm thủy cầm, đều có thể mắc cúm gia cầm và một số bệnh do virus khác. Thủy cầm có điểm đáng lo là đôi khi mang virus cúm mà dấu hiệu bệnh không rõ như ở gà, nên an toàn sinh học phải làm đều tay chứ không đợi thấy con ốm. Các việc cơ bản: mua con giống có nguồn gốc rõ, con mới về nuôi riêng một thời gian trước khi nhập đàn, không cho người lạ và người đi buôn gia cầm vào chuồng, rửa tay, thay dép khi vào khu nuôi.
Tiêm phòng làm theo hướng dẫn của cán bộ thú y xã; mỗi vùng có lịch và loại vắc-xin được khuyến cáo khác nhau, và ngan, vịt có thể không dùng chung một lịch. Khi đàn có con chết bất thường, chết nhiều trong một hai ngày, bỏ ăn đồng loạt, hãy báo ngay thú y xã và chính quyền, không bán chạy, không vứt xác ra sông, ao. Đó vừa là nghĩa vụ theo Luật Thú y 2015, vừa là cách bảo vệ cả xóm. Chi tiết về khai báo dịch nên kiểm theo văn bản hiện hành và hỏi trực tiếp thú y địa phương.
Một thói quen nhỏ giúp phát hiện sớm: mỗi sáng khi cho ăn, đếm đàn và nhìn xem con nào không chạy lại máng, đứng ủ rũ một góc, phân khác màu hay mắt chảy nước. Ghi vào sổ ngày nào thấy gì, cho ăn gì, tiêm gì. Khi phải gọi thú y, cuốn sổ đó giúp người ta khoanh vùng nguyên nhân nhanh hơn nhiều so với lời kể theo trí nhớ.
Câu hỏi thường gặp
Ngan có cần ao không?
Không cần. Ngan sống tốt trên cạn, chỉ cần máng nước đủ sâu để nhúng mỏ, rửa mắt và nước thay thường xuyên. Có ao thì ngan cũng xuống bơi, nhưng ít ham nước hơn vịt nhiều.
Vì sao ngan hay mổ lông nhau?
Thường do nuôi chật, thiếu chỗ tránh, thiếu thức ăn xanh để mổ, nền bẩn, nóng, hoặc khẩu phần thiếu chất. Tách con bị mổ chảy máu ra riêng, giảm mật độ, treo rau cho ngan mổ, xem lại thức ăn; kéo dài thì hỏi thú y.
Nuôi chung ngan và vịt một chuồng được không?
Được nhưng không nên với người mới. Ngan trống to dễ lấn vịt ở máng ăn, hai loài cần độ ẩm nền và lượng nước khác nhau. Nếu nuôi cả hai, nên chia ô riêng và dùng máng riêng.
Làm sao phân biệt ngan trống và ngan mái khi còn nhỏ?
Lúc vài tuần tuổi, ngan trống thường lớn nhanh hơn, chân to hơn, mảng da quanh mắt phát triển rõ hơn. Người có kinh nghiệm phân biệt được sớm hơn; người mới có thể nhờ nơi bán giống tách giúp.
Ngan có ồn như vịt không?
Ngan kêu khàn, nhỏ và ít kêu hơn vịt, nên hợp với nhà gần hàng xóm. Tuy vậy, ngan vẫn phát ra tiếng và mùi phân nếu chuồng bẩn, nên chuồng vẫn phải đặt xa cửa sổ nhà bên và dọn thường xuyên.
Ngan và vịt có cùng loại vắc-xin không?
Không nên mặc định là cùng. Một số bệnh chung cho cả hai, nhưng loại vắc-xin, độ tuổi tiêm do cán bộ thú y khuyến cáo theo loài và theo vùng. Khi hỏi, hãy nói rõ loài, số lượng, ngày tuổi của đàn.