Nuoi.netNuôi
Nuôi vịt và ngan

Nuôi vịt gần ao, mương chung của xóm: giữ nước sạch, xử lý phân và giữ hoà khí

Vịt làm bẩn nước rất nhanh. Cách nhận biết nguồn nước quá tải, giảm tải cho ao, mương chung, xử lý phân và nước thải chuồng vịt, và những điều luật dặn người nuôi.

Aerial view of a village canal in Vinh Long at dawn, a small netted enclosure of ducks along one bank separated from open water, houses and coconut palms beside

Nuôi vịt gần ao, mương chung của xóm vẫn làm được, miễn là đàn vịt không vượt quá sức chịu của nguồn nước, phân và nước rửa chuồng không đổ thẳng xuống nước chung, và vịt được nhốt riêng khi trong vùng có dịch. Vịt thải phân trực tiếp xuống nước, khuấy bùn và làm rơi thức ăn, nên một đàn quá đông có thể biến một khúc mương trong thành nước xanh đặc, bốc mùi chỉ trong một mùa nóng.

Nguồn nước chung là thứ cả xóm dùng: tưới rau, rửa đồ, nuôi cá, có nơi còn lấy nước sinh hoạt. Khi nước hỏng, người chịu không chỉ là nhà nuôi vịt. Bài này giúp bạn đọc dấu hiệu nước quá tải, giảm tải cho ao mương, xử lý phân và nước thải chuồng vịt ở mức nông hộ, và những điều pháp luật đặt ra cho người nuôi.

Vì sao vịt làm bẩn nước nhanh

Vịt sống trên nước, ăn trên nước và thải phân xuống nước. Phân vịt giàu đạm và lân, khi tan vào nước trở thành phân bón cho tảo. Tảo phát triển mạnh làm nước chuyển xanh đậm; ban ngày tảo sinh oxy, nhưng ban đêm và lúc trời âm u, tảo cùng vi sinh vật phân huỷ chất hữu cơ tiêu thụ oxy. Ở ao tĩnh, mương ít lưu thông, oxy có thể tụt mạnh vào gần sáng, cá nổi đầu, có khi chết.

Một con vịt thải phân gần như liên tục suốt ngày, và phần lớn thời gian đó vịt ở trên hoặc gần nước. Vì vậy cùng một đàn vịt, để trên sân thì phân gom được, để trên nước thì gần như toàn bộ đi thẳng vào nước. Đây là lý do cách nuôi quyết định mức ô nhiễm nhiều hơn số vịt.

Vịt còn mò bùn đáy, khuấy chất lắng lên, làm nước đục. Thức ăn rơi ra khi vịt ăn trên bờ, trên mặt nước cũng phân huỷ trong nước. Bờ ao nơi vịt lên xuống bị sạt dần, thành bãi bùn nhão. Tất cả cộng lại, một khúc mương hẹp với đàn vịt đông chẳng mấy chốc thành nơi bốc mùi, nhiều ruồi muỗi.

Ngược lại, một mặt nước rộng, có dòng chảy hoặc được thay nước, với số vịt vừa phải, có thể tự làm sạch phần lớn chất thải. Người xưa nuôi vịt trên ao không phải là sai; chỗ sai thường là số vịt quá nhiều so với nước, và nước dùng chung mà không ai tính phần cho người khác.

Dấu hiệu nguồn nước đang quá tải

Không cần máy đo, người nuôi vẫn đọc được nhiều điều từ mặt nước. Khi thấy các dấu hiệu dưới đây, nên giảm số vịt trên nước hoặc chuyển bớt sang nuôi trên sân.

Dấu hiệuThường có nghĩa làViệc nên làm
Nước xanh đậm như nước rau, có vángTảo phát triển mạnh do dư chất dinh dưỡngGiảm vịt trên ao, không đổ thêm nước thải, tăng thay nước nếu có thể.
Mùi tanh, hôi bốc lên khi trời nóngChất hữu cơ phân huỷ thiếu oxyRút vịt lên sân, kiểm tra nguồn nước thải chảy vào.
Cá nổi đầu lúc rạng sángOxy về đêm xuống thấpBáo người nuôi cá chung ao, giảm tải ngay, không cho ăn thừa.
Bờ sạt, bùn nhão chỗ vịt lên xuốngVịt tập trung một chỗ quá lâuLuân phiên lối lên xuống, kè tạm bằng tre, gỗ.
Hàng xóm phàn nàn mùi, ruồiChất thải đã vượt khỏi phạm vi nhà mìnhGặp nói chuyện, xem lại toàn bộ khâu xử lý phân.

Ở mương có nước chảy, chất thải trôi xuống hạ nguồn, nhà phía dưới chịu trước khi bạn nhận ra. Thỉnh thoảng đi dọc mương về phía hạ nguồn vài trăm mét để xem nước ở đó ra sao.

Nếu nhà có giếng đào gần ao vịt, nên để ý nước giếng có đổi màu, đổi mùi không, nhất là sau mưa lớn. Giếng nông đặt gần ao, gần hố ủ phân có thể bị nước bẩn thấm vào; khi đó nên hỏi trạm y tế hoặc cơ quan chuyên môn về việc kiểm tra nước trước khi dùng cho ăn uống.

Cách giảm tải cho ao, mương chung

Không nhất thiết phải bỏ nuôi vịt. Một vài thay đổi trong cách nuôi đủ để nguồn nước dễ thở hơn nhiều:

  • Quây lưới một đoạn nước thay vì để vịt bơi cả mương; chọn đoạn có nước lưu thông, không ngay chỗ hàng xóm lấy nước.
  • Kết hợp sân khô: cho vịt ăn trên sân, chỉ thả xuống nước vào một số giờ trong ngày. Phần lớn phân sẽ rơi trên sân, nơi bạn gom được.
  • Không cho ăn trên mặt nước: thức ăn rơi xuống nước là phân bón cho tảo và nguồn thối.
  • Luân phiên khu nước nếu có nhiều ao, nhiều đoạn quây: cho khu đã dùng được nghỉ, nước phục hồi.
  • Giảm số vịt theo mùa: mùa khô nước cạn, nóng, sức chịu của nước giảm hẳn, nên nuôi ít hơn mùa mưa.
  • Nhốt vịt lên cạn khi có dịch hoặc khi cơ quan thú y khuyến cáo, vì nước chung là đường lây bệnh giữa các đàn.

Mô hình kết hợp chuồng vịt, ao cá và vườn cây trong một hệ thống khép kín là một chủ đề lớn của nông nghiệp tuần hoàn, có chuyên trang riêng. Ở đây chỉ cần nhớ nguyên tắc: chất thải đưa vào nước phải ít hơn những gì nước xử lý được.

Xử lý phân và nước thải chuồng vịt ở nông hộ

Chuồng vịt, dù nuôi khô hay có ao, đều sinh ra độn trộn phân và nước rửa. Trình tự xử lý đơn giản cho nông hộ:

  1. Gom độn chuồng và phân trên sân hằng ngày hoặc vài ngày một lần, đưa về một chỗ ủ cố định.
  2. Chỗ ủ có mái che mưa, nền chống thấm hoặc lót bạt, đặt xa giếng nước, xa ao mương và xa nhà hàng xóm.
  3. Ủ thành đống, che phủ kín, đảo theo định kỳ; có thể dùng chế phẩm vi sinh theo hướng dẫn của cán bộ khuyến nông để rút ngắn thời gian và giảm mùi.
  4. Nước rửa chuồng, rửa máng dẫn theo rãnh có nắp về hố lắng, không cho chảy thẳng xuống mương chung.
  5. Cặn hố lắng vớt ra ủ cùng phân; phần nước trong dùng tưới gốc cây ăn trái, cây lâu năm, không tưới thẳng lên rau ăn lá.
  6. Phân đã ủ hoai mới đem bón ruộng, vườn; phân tươi không bón cho rau.
  7. Nhà có nuôi heo và có hầm biogas thì có thể đưa phân vịt đã gom vào cùng, theo hướng dẫn kỹ thuật của hầm.

Phân vịt ủ hoai là phân hữu cơ tốt cho vườn. Nhiều hộ còn bán hoặc đổi phân cho người trồng rau, trồng cây ăn trái trong xóm; xử lý đúng thì chất thải trở thành thứ có giá trị chứ không còn là nguồn phiền toái.

Nuôi vịt chung ao cá: lợi và rủi ro

Lợi. Phân vịt làm nước giàu dinh dưỡng, sinh nhiều thức ăn tự nhiên cho một số loài cá ăn sinh vật phù du; vịt ăn bớt cỏ, ốc ở bờ ao. Đây là lý do mô hình vịt trên, cá dưới tồn tại ở nhiều nơi.

Rủi ro thiếu oxy. Vịt quá đông thì nước quá giàu chất, tảo bùng, oxy về đêm tụt, cá nổi đầu, chết. Đây là rủi ro lớn nhất và thường đến vào những đêm nóng, oi, trời âm u.

Vịt ăn cá con. Thả cá giống cỡ nhỏ vào ao có vịt là cho vịt ăn. Cá thả phải đủ lớn, hoặc quây khu riêng cho vịt.

Mâu thuẫn khi ao không phải của một nhà. Ao chung, người nuôi cá và người nuôi vịt khác nhau, chuyện cá chết dễ thành tranh chấp. Phải thoả thuận trước về số vịt và khu vực.

Thoả thuận về thu hoạch cá. Lúc tát ao, kéo lưới bắt cá, vịt phải được rút khỏi ao trước vài ngày, và bờ ao nơi vịt lên xuống cần được sửa lại sau mỗi vụ. Ghi các thoả thuận đơn giản này ra giấy giữa các nhà dùng chung ao giúp tránh hiểu lầm về sau.

Mầm bệnh. Vịt bệnh thải mầm bệnh vào nước; một số bệnh của vịt lây qua nước sang đàn vịt khác cùng dùng ao. Khi đàn ốm, rút vịt khỏi ao ngay.

Mùa khô, mùa mưa lũ và nguồn nước chung

Sức chịu của nguồn nước thay đổi theo mùa. Mùa khô, mương cạn, nước ít mà nóng, cùng một lượng phân vịt nhưng nồng độ trong nước cao hơn hẳn, tảo bùng nhanh hơn, oxy về đêm thấp hơn. Đây là lúc nên giảm số vịt thả xuống nước, chuyển bớt sang nuôi trên sân, và tuyệt đối không xả nước rửa chuồng ra mương.

Mùa mưa lũ đặt ra chuyện khác. Nước dâng có thể tràn vào chuồng, cuốn phân, độn, thức ăn ra ngoài; hố ủ phân không có mái che, không bờ bao sẽ tràn theo nước. Trước mùa lũ, kiểm tra lại chỗ ủ phân, nâng bờ, che chắn, và có phương án đưa vịt lên chỗ cao. Vịt bơi theo nước lũ dễ thất lạc, lẫn vào đàn nhà khác, mang bệnh từ nơi này sang nơi khác.

Sau lũ, nước ao mương thường đục, nhiều rác và xác động vật trôi dạt. Đừng vội thả vịt xuống lại; đợi nước lắng, dọn rác, hỏi thú y xã xem vùng có dịch gì sau lũ không. Dọn sạch, tiêu độc chuồng theo hướng dẫn trước khi nuôi tiếp.

Hàng xóm, pháp luật và trách nhiệm của người nuôi

Luật Chăn nuôi 2018 quy định chăn nuôi nông hộ phải bảo đảm vệ sinh môi trường, xử lý chất thải, không gây ô nhiễm ảnh hưởng tới người khác; luật không cho chăn nuôi trang trại trong nội thành và khu dân cư, và giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định những khu vực nội thành không được phép chăn nuôi. Luật Bảo vệ môi trường 2020 cũng đặt nghĩa vụ không xả chất thải chưa xử lý ra nguồn nước. Các quy định chi tiết nằm ở nghị định, thông tư và quyết định của tỉnh, và có thể thay đổi; bạn nên hỏi cán bộ xã và kiểm văn bản hiện hành trước khi mở rộng đàn.

Ngoài luật, ở làng xóm còn hương ước, thoả thuận về dùng nước chung. Trước khi thả vịt xuống mương chung, hỏi trưởng thôn hoặc những nhà cùng dùng nước. Nói rõ số vịt, khu vực quây, cách bạn xử lý phân, và sẵn sàng giảm đàn nếu nước có vấn đề.

Khi có phàn nàn, đừng bảo vệ mình bằng câu nhà ai cũng nuôi. Đi xem nguồn mùi, nguồn nước thải, sửa chỗ hỏng, rồi quay lại nói chuyện. Giữ được hoà khí là giữ được chỗ nuôi lâu dài; mất hoà khí thì sớm hay muộn cũng phải bỏ nuôi.

Câu hỏi thường gặp

Bao nhiêu con vịt thì vừa với một cái ao?

Không có con số chung, vì phụ thuộc diện tích, độ sâu, nước có lưu thông không, mùa nào, có nuôi cá chung không. Bắt đầu ít, quan sát màu nước và mùi, cá có nổi đầu không, rồi mới tăng dần. Cán bộ khuyến nông có thể góp ý theo ao cụ thể.

Nước ao xanh đậm có phải là xấu không?

Màu xanh nhạt vừa phải là có tảo, không hẳn xấu. Xanh đậm đặc, có váng, có mùi, cá nổi đầu buổi sáng là dấu hiệu dư chất dinh dưỡng, nguồn nước đang quá tải và cần giảm vịt, giảm chất thải đưa vào.

Có được thả vịt xuống kênh thủy lợi không?

Tuỳ quy định quản lý kênh của địa phương; nhiều nơi kênh thủy lợi có quy định riêng về bảo vệ công trình và nguồn nước. Hỏi ủy ban xã hoặc đơn vị quản lý thủy lợi trước khi thả, không mặc định là được.

Rắc vôi xuống ao có làm sạch nước khi nuôi vịt không?

Vôi được dùng trong cải tạo ao và có thể giúp ổn định nước trong một số trường hợp, nhưng không giải quyết được gốc là quá nhiều chất thải. Liều dùng và thời điểm nên theo hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá ao hoặc cán bộ khuyến nông.

Phân vịt có bón thẳng cho rau được không?

Không nên bón phân tươi cho rau, nhất là rau ăn lá, vì có thể mang mầm bệnh. Phân vịt cần ủ hoai có che phủ rồi mới bón. Phân đã ủ dùng tốt cho cây ăn trái, rau màu và ruộng.

Hàng xóm phàn nàn mùi chuồng vịt thì làm gì trước?

Đi xem nguồn mùi: hố lắng không nắp, độn ướt lâu ngày, phân dồn dưới sàn hay nước thải chảy ra mương. Sửa chỗ đó trước, rồi gặp hàng xóm nói rõ những gì đã làm và hẹn kiểm tra lại sau vài ngày.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.