Ao nhà nên nuôi cá gì không có một đáp án chung: ao đất vài trăm mét vuông, có nước cấp quanh năm và nhiều cỏ, lá trong vườn thì nuôi ghép trắm cỏ làm chính, thêm chép, mè, rô phi là cách phổ biến và dễ giữ nhất. Ao nhỏ, nước kém, ít thời gian thì nên nuôi một loài chịu nước xấu như cá trê, cá lóc, hoặc rô phi đơn tính. Loài cá chỉ là bước cuối; trước đó bạn phải biết ao mình giữ được bao nhiêu nước, nuôi cá bằng gì và ai ra ao mỗi ngày.
Phần lớn ao nhà thất bại không phải vì chọn sai giống cá mà vì chọn loài vượt quá điều kiện của ao: thả cá ăn cỏ khi trong vườn không có cỏ, thả cá dữ chung với cá nhỏ, hay thả dày như ao chuyên nghiệp trong khi không có máy bơm, máy sục. Bài này đi theo thứ tự ngược lại: xem ao, xem nguồn thức ăn, rồi mới chọn cá và cách ghép.
Bốn câu hỏi trả lời trước khi mua con giống
Ao giữ nước được bao nhiêu và trong bao lâu? Đo mực nước vào cuối mùa khô, không đo lúc vừa mưa. Ao chỉ còn vài tấc nước trong tháng nắng nhất thì cá trắm, cá mè dễ chết nóng và thiếu oxy; ao như vậy hợp với loài chịu nước nông, nước xấu, hoặc phải tính chuyện thu hoạch trước mùa khô. Ao đất thịt, đất sét giữ nước tốt hơn ao đất cát, nơi nước rút nhanh qua đáy và bờ.
Có nguồn nước cấp sạch không? Nước giếng, nước kênh có cống chắn, nước mưa trữ là ba nguồn hay gặp. Ao chỉ nhận nước tràn từ ruộng phun thuốc hoặc từ cống thải của xóm thì loài nào cũng khó sống khoẻ. Không có nước thay, bạn phải nuôi thưa hơn hẳn và cho ăn dè hơn.
Nhà có sẵn thức ăn gì? Vườn nhiều cỏ voi, lá chuối, bèo, rau lang thì cá ăn cỏ như trắm cỏ có lợi thế lớn. Nhà làm ruộng có cám, tấm thì chép, rô phi tận dụng được. Không có nguồn nào, cả vụ phải mua thức ăn viên; khi đó phép tính tiền vốn thay đổi hẳn.
Mỗi ngày ai ra ao, ra lúc nào? Cá ao cần người nhìn vào buổi sáng sớm và chiều muộn: xem cá có nổi đầu không, ăn hết mồi không, nước có đổi màu không. Nhà đi làm xa cả ngày thì nên chọn loài ít đòi hỏi, nuôi thưa và cho ăn theo một giờ cố định mỗi ngày.
Đặc điểm các loài cá ao quen thuộc ở nông hộ
Bảng dưới gom những gì người nuôi nhỏ cần biết về từng loài. Đây là đặc điểm chung; giống cá cụ thể và khí hậu từng vùng có thể khác, nên hỏi thêm cán bộ khuyến nông xã trước khi thả.
| Loài | Ăn gì là chính | Sống ở tầng nước | Hợp với ao thế nào | Điều cần để ý |
|---|---|---|---|---|
| Trắm cỏ | Cỏ, lá, bèo, rau | Tầng giữa và mặt | Ao vừa và rộng, nhà có nhiều cỏ | Ăn nhiều, thải nhiều phân; dễ mắc bệnh khi nước bẩn |
| Chép | Bới đáy tìm mồi, ăn cám | Tầng đáy | Ao có đáy bùn vừa phải | Bới đáy làm nước đục nếu thả dày |
| Mè trắng, mè hoa | Sinh vật phù du trong nước | Tầng mặt | Ao có nước xanh nõn chuối | Hầu như không ăn thức ăn rải; nhạy với thiếu oxy |
| Rô phi | Tạp: cám, thức ăn viên, tảo, rau | Mọi tầng | Ao nhỏ đến vừa, nước ấm | Chịu lạnh kém; nên mua cá đơn tính để tránh đẻ dày ao |
| Trôi, rô hu | Mùn đáy, tảo bám, cám | Tầng đáy và giữa | Ghép cùng chép, trắm | Không tranh mồi nhiều với cá khác |
| Cá lóc (cá quả) | Cá nhỏ, tôm tép, thức ăn viên | Gần mặt, ven bờ có cỏ | Ao nhỏ, mương vườn, bể bạt | Ăn thịt cá nhỏ, ăn lẫn nhau khi chênh cỡ |
| Cá trê | Tạp, ăn đáy | Tầng đáy | Ao nhỏ, nước xấu | Chui bờ, bò đi khi mưa to; cần bờ chắc |
Cá lóc và cá trê thở được khí trời nên chịu nước kém oxy hơn các loài khác. Đó là lý do chúng hợp với ao nhỏ, nước tù, nhưng cũng là lý do người nuôi dễ chủ quan để nước xuống quá mức.
Nuôi ghép: vì sao một ao nên có nhiều loài
Một ao nuôi ghép tận dụng mọi tầng nước và mọi nguồn mồi. Cá trắm ăn cỏ trên mặt, phân của trắm làm nước giàu dinh dưỡng, tảo và sinh vật nhỏ phát triển, mè ăn chính lớp sinh vật đó. Chép và trôi ăn ở đáy những gì rơi xuống: cám thừa, mùn, phân. Rô phi ăn tạp, nhặt phần còn lại. Người nuôi gọi kiểu ghép này là nuôi một con chính, kèm vài con phụ.
Lợi ích thứ nhất là thức ăn ít bị phí, nước đỡ bẩn hơn so với thả dày một loài rồi cho ăn nhiều. Lợi ích thứ hai là rủi ro được chia: một loài gặp bệnh hoặc chậm lớn thì ao vẫn còn cá khác để thu. Lợi ích thứ ba là thu hoạch rải được nhiều đợt, mỗi đợt một ít, hợp với nhà vừa ăn vừa bán lẻ trong xóm.
Cách ghép cũng đổi theo vùng. Ở miền Bắc, mùa đông lạnh làm rô phi chậm lớn và có thể chết rét, nên các ao truyền thống nghiêng về trắm, chép, mè, trôi vốn chịu lạnh tốt hơn. Ở miền Nam và vùng nóng quanh năm, rô phi, cá lóc, cá trê lớn nhanh hơn và được nuôi nhiều hơn. Hỏi những nhà nuôi lâu năm trong xóm xem loài nào sống qua được mùa khắc nghiệt nhất của vùng là cách rẻ nhất để tránh chọn sai.
Ghép cũng có giới hạn. Không ghép cá lóc với cá giống nhỏ của các loài khác, vì cá lóc sẽ ăn chúng. Không thả quá nhiều chép trong ao nước nông vì chúng bới đáy làm đục nước, mè thiếu ánh sáng cho tảo. Rô phi đẻ được trong ao nếu không phải cá đơn tính, đàn cá con dày đặc sẽ tranh mồi với cá chính. Ghép càng nhiều loài, người nuôi càng phải hiểu thói ăn của từng loài để không cho ăn thừa.
Khi nào chỉ nên nuôi một loài
Ao rất nhỏ hoặc bể lót bạt. Diện tích vài chục mét vuông không đủ để chia tầng nước có ý nghĩa. Một loài, mật độ vừa phải, dễ quan sát và dễ thay nước hơn.
Nước ao kém, ít thay được. Cá trê, cá lóc chịu được nước nghèo oxy nhờ thở khí trời. Thả chung với mè, trắm vốn cần nước tốt thì đến đợt oi nóng sẽ thấy mè chết trước.
Muốn bán theo một đầu mối. Người mua sỉ thường lấy một loài, một cỡ. Ao nuôi đơn dễ thu toàn bộ và giao một lần, đỡ việc phân loại.
Người mới, muốn học nhịp chăm. Bắt đầu với một loài dễ như rô phi đơn tính cho bạn thời gian quen việc cho ăn, nhìn nước, xem cá. Vụ sau mới ghép thêm loài, thay vì học mọi thứ trong một vụ.
Ao đã từng có cá dữ hoặc cá tạp không vét hết. Khi chưa chắc ao sạch cá lóc, cá rô đồng tự nhiên, thả cá giống nhỏ của loài khác là mất phần lớn. Nuôi cá cỡ lớn một loài hoặc làm sạch ao trước.
Tính số cá cho ao nhà: cách chia theo một ví dụ giả định
Mật độ thả thật phụ thuộc giống, vùng, thức ăn và tay nghề, nên nên hỏi khuyến nông địa phương. Các bước dưới chỉ để bạn biết cách chia, các con số là ví dụ giả định.
- Đo diện tích mặt nước lúc thấp nhất trong năm, không phải lúc đầy. Ví dụ giả định: ao đo được khoảng 400 mét vuông, sâu trung bình hơn một mét.
- Chọn loài chính theo nguồn thức ăn sẵn có. Nhà có cỏ voi và lá chuối quanh năm thì trắm cỏ làm chính.
- Hỏi khuyến nông mật độ tổng cho ao không có máy sục, rồi lấy thấp hơn mức đó một chút trong vụ đầu, để dành chỗ cho sai sót.
- Chia tỷ lệ: loài chính chiếm phần lớn, các loài phụ chia phần còn lại. Ví dụ giả định: trắm chiếm khoảng một nửa số con, mè khoảng một phần năm, chép và trôi chia nhau phần còn lại.
- Mua cá giống cỡ lớn hơn bình thường nếu ao chưa chắc sạch cá tạp; cá lớn chịu được địch hại và lên cỡ thịt sớm hơn.
- Ghi vào sổ ngày thả, số con, cỡ từng loài, để lúc đánh tỉa biết loài nào lớn nhanh, loài nào hao.
Thả thưa trong vụ đầu là cách học rẻ nhất. Thả dày khi chưa biết ao chịu được bao nhiêu thì cá hao do thiếu oxy, bệnh, và bạn không phân biệt được lỗi nằm ở đâu.
Đánh tỉa, thả bù để ao lúc nào cũng có cá
Ao nông hộ hiếm khi tháo cạn thu hết một lần. Cách quen thuộc là đánh tỉa: kéo lưới hoặc dùng vó bắt những con đã đạt cỡ ăn, cỡ bán, trả lại con nhỏ. Mỗi lần tỉa, ao thưa ra, cá còn lại có thêm chỗ và mồi để lớn. Tỉa vào sáng sớm trời mát, cho cá nhịn ăn từ chiều hôm trước để đỡ sốc và đỡ làm bẩn nước.
Sau mỗi đợt tỉa có thể thả bù cá giống. Thả bù nên dùng cá cỡ lớn để chúng không bị lép vế trước đàn cá cũ, và chỉ thả loài phù hợp với ao lúc đó: ao đã có cá lóc lọt vào thì không thả cá giống nhỏ. Ghi lại số con đã bắt, số con thả thêm để ước ao còn bao nhiêu cá; ước sai thì cho ăn sai.
Thả bù liên tục nhiều năm làm đáy ao tích bùn và mầm bệnh. Cứ một đến vài năm, tuỳ độ bùn, nên chọn một mùa thu hoạch toàn bộ, tháo cạn, vét bùn và phơi đáy rồi mới nuôi lại. Cách làm cụ thể nằm ở bài cải tạo ao cũ trong cùng chuyên mục.
Những trường hợp chưa nên thả cá
Có những ao nên xử lý xong vấn đề khác rồi mới tính đến cá. Thả cá vào các ao dưới đây thường mất giống, mất công:
- Ao nhận nước thải sinh hoạt, nước rửa chuồng chưa xử lý hoặc nước tràn từ ruộng vừa phun thuốc bảo vệ thực vật.
- Ao chung của xóm mà chưa thống nhất ai nuôi, ai được bắt, ai chịu khi cá chết; chuyện này nên bàn và ghi lại trước.
- Ao không giữ được nước qua mùa khô, cũng không có nguồn bơm bổ sung.
- Ao sát nhà, nhà có trẻ nhỏ mà chưa rào hoặc chưa có nắp chắn quanh bờ; an toàn của trẻ đặt trên mọi chuyện cá.
- Ao dưới tán cây lớn rụng lá quanh năm, nước luôn thâm đen, thiếu nắng.
- Ao cũ chưa vét, đáy bùn đen bốc mùi trứng thối khi khuấy.
Nếu ao nhà rơi vào một trong các trường hợp trên, việc đầu tiên là sửa ao. Mô hình kết hợp vườn, ao, chuồng ở quy mô cả trang trại có trang chuyên về nông nghiệp tuần hoàn; ở đây chỉ bàn chuyện con cá trong ao.
Câu hỏi thường gặp
Ao khoảng một trăm mét vuông có nuôi ghép được không?
Được nhưng nên đơn giản: một loài chính và một loài phụ, ví dụ rô phi đơn tính kèm vài con chép. Ao nhỏ nóng lên và thiếu oxy nhanh hơn ao lớn, nên thả thưa, cho ăn ít mà nhiều lần và nhìn cá mỗi sáng.
Nuôi cá trắm cỏ có cần cho ăn cám không?
Trắm cỏ sống chủ yếu bằng cỏ, lá, bèo, rau. Cám hoặc thức ăn viên chỉ là phần bổ sung khi thiếu cỏ hoặc muốn cá lớn nhanh hơn. Điều quan trọng là vớt phần cỏ thừa và cọng già mỗi ngày để không thối dưới ao.
Có nên thả cá rô đồng, cá sặc tự nhiên vào ao nuôi ghép không?
Không nên thả chung với cá giống nhỏ của loài khác. Cá tạp tự nhiên tranh mồi và có loài ăn trứng, ăn cá con. Nếu muốn nuôi cá đồng thì nên dành riêng một ao hoặc một bể và mua con giống có nguồn rõ ràng thay vì bắt ngoài tự nhiên.
Ao nuôi cá có phải đăng ký với chính quyền không?
Ao nhỏ phục vụ gia đình thường không thuộc diện phải xin phép như cơ sở nuôi trồng thủy sản thương phẩm, nhưng quy định có thể khác theo đối tượng nuôi và địa phương. Nên hỏi cán bộ xã và kiểm tra Luật Thủy sản 2017 cùng văn bản hướng dẫn hiện hành.
Cá ăn cỏ thải nhiều phân có làm hỏng ao không?
Phân trắm cỏ là nguồn dinh dưỡng cho tảo và mè nếu lượng vừa phải. Khi thả quá dày hoặc cho ăn quá nhiều cỏ, phân và cỏ thừa tích ở đáy, nước chuyển đen và cá dễ thiếu oxy. Ghép thêm mè, chép và vớt cỏ thừa là cách giữ cân bằng.
Nuôi cá ao có cần máy sục khí không?
Ao nông hộ nuôi thưa, có nước thay thì nhiều nhà vẫn nuôi được không cần máy sục. Khi thả dày hơn, ao nhỏ, nước tù hoặc vùng hay nắng nóng kéo dài, một máy bơm hoặc máy sục nhỏ giúp cứu cá trong các buổi sáng thiếu oxy.