Nhà không có ao vẫn nuôi được cá trong hồ lót bạt đặt ở sân sau: một khung tròn bằng lưới thép hoặc một hố đào nông, lót tấm bạt chuyên dùng, có ống xả đáy và mái che một phần. Hồ bạt hợp với cá trê, cá lóc, rô phi, cá rô đồng mua giống, nuôi thưa ở mức nông hộ. Khác biệt lớn nhất với ao đất là hồ bạt không có đáy bùn tự xử lý chất thải, nên phải thay nước và xả cặn đều đặn.
Bài này nói về hồ bạt nhỏ của gia đình, nuôi để ăn và bán lẻ, không phải mô hình bể nuôi mật độ cao có hệ thống vi sinh, máy móc phức tạp. Nếu bạn đang tính nuôi thâm canh trong bể, đó là một bài toán vốn và điện khác hẳn; ở đây chỉ bàn cách làm vừa sức một hộ.
Hồ lót bạt hợp với ai và khác ao đất ở chỗ nào
Hồ bạt hợp với nhà ở ven đô, sân nhỏ không đào được ao, đất cát không giữ nước, hoặc nhà muốn thử nuôi cá trước khi quyết định đào ao thật. Hồ dựng được trong vài ngày, tháo ra được, và dễ quan sát cá hơn ao rộng. Với nhà thuê đất ngắn hạn, hồ bạt là cách nuôi cá mà không phải đào bới, khi trả đất chỉ cần tháo dỡ và san lại nền. Hồ đặt gần nhà nên việc cho ăn, nhìn cá mỗi sáng nhẹ hơn nhiều.
Điểm khác cốt lõi là ao đất có đáy và bờ đất, nơi vi sinh vật phân huỷ một phần chất thải, đất hấp thụ bớt chất độc, và khối nước lớn giữ nhiệt ổn định. Hồ bạt nhỏ không có những thứ đó. Phân cá và thức ăn thừa nằm lại trên mặt bạt, nước bẩn nhanh hơn, và nhiệt độ nước thay đổi nhanh theo nắng.
Vì vậy, nguyên tắc của hồ bạt là: nuôi thưa hơn ao, thay nước và xả cặn thường xuyên hơn, che nắng chủ động, và có phương án cấp khí khi trời oi. Người nuôi hồ bạt phải chăm nước sát hơn, đổi lại được nhìn rõ cá và kiểm soát được nguồn nước vào.
Ba kiểu hồ lót bạt hay gặp ở nông hộ
Chọn kiểu hồ theo mặt bằng, đất và mức đầu tư. Bảng dưới so sánh ba kiểu phổ biến:
| Kiểu hồ | Cách làm | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|---|
| Đào nông, lót bạt | Đào hố, vỗ chặt thành, lót bạt kín | Rẻ, nhiệt độ ổn định hơn nhờ đất bao quanh | Khó xả cặn đáy nếu không có ống, nước mưa tràn vào |
| Khung lưới thép tròn, lót bạt | Dựng vòng lưới thép trên nền phẳng, lót bạt bên trong | Dựng nhanh, tháo dời được, dễ làm ống xả giữa đáy | Thành mỏng, nước nóng nhanh nếu không che |
| Xây gạch thấp, lót bạt | Xây tường gạch quanh, lót bạt chống thấm | Chắc, bền, dễ làm mái che | Tốn công, khó di dời |
Hồ tròn có ống xả ở giữa đáy là kiểu dễ xả cặn nhất: khi nước xoay nhẹ, cặn dồn về tâm và theo ống ra ngoài. Hồ vuông, chữ nhật vẫn dùng được nhưng cặn hay đọng ở góc. Về kích cỡ, hồ quá nhỏ khó giữ nhiệt và nước ổn định; hồ quá lớn so với sức thay nước của gia đình thì lại khó giữ sạch. Nên tính lượng nước bạn có thể thay mỗi tuần trước khi chọn cỡ hồ.
Dựng hồ để bạt không thủng và nước không rò
Bạt thủng là sự cố hay gặp nhất của hồ nhà làm, và thường chỉ được phát hiện khi mực nước tụt dần không rõ lý do. Thứ tự dựng dưới đây giảm phần lớn rủi ro:
- Chọn nền phẳng, chắc, không trũng nước mưa. Tránh đặt ngay dưới cây lớn: lá rụng làm bẩn nước, cành gãy làm rách bạt.
- Dọn sạch đá, sỏi, mảnh sành, rễ cây trên nền và quanh thành. Một viên sỏi nhọn dưới bạt có thể đục thủng sau vài tuần nước đè.
- Lót một lớp đệm: cát mịn, bao tải cũ hoặc vải địa kỹ thuật, trải phẳng.
- Dùng bạt chuyên dùng cho nuôi trồng thuỷ sản, đủ dày, không dùng bạt che mưa mỏng. Hỏi người bán loại bạt an toàn cho cá.
- Làm ống xả đáy trước khi lót bạt, gioăng kín chỗ bạt nối với ống.
- Đổ nước rửa bạt mới, ngâm vài ngày rồi xả bỏ để rửa bụi và mùi.
- Làm mái che lưới một phần hồ và rào hoặc lưới phủ chống chim, mèo, rắn.
Khi bạt thủng lỗ nhỏ, hạ nước dưới chỗ thủng, lau khô và dán miếng vá theo hướng dẫn của loại bạt. Chỗ vá nên ghi lại để kiểm tra những lần xả cạn sau.
Chọn loài cho hồ bạt
Cá trê. Chịu nước kém oxy, chịu chật tốt hơn nhiều loài, lớn nhanh. Là lựa chọn hay gặp nhất cho hồ bạt nhỏ. Cần nắp hoặc lưới phủ vì trê có thể bò ra theo thành khi mưa.
Cá lóc. Hợp hồ bạt vì thở khí trời, nhưng nhảy rất cao; hồ phải có lưới phủ kín. Cần đàn đều cỡ, thức ăn đạm đầy đủ.
Rô phi. Dễ nuôi, ăn tạp, nhưng cần nước sạch hơn trê, lóc; hồ có sục khí nhỏ sẽ an toàn hơn. Nên dùng cá đơn tính.
Cá rô đồng từ con giống mua. Chịu nước khá, thịt được ưa chuộng; vẫn có thể leo ra ngoài khi mưa, cần lưới phủ.
Loài không hợp. Cá mè cần nhiều sinh vật phù du và oxy; trắm cỏ lớn cần không gian rộng và thải nhiều; chúng hợp ao đất hơn hồ bạt.
Một hồ một loài. Hồ bạt nhỏ không đủ tầng nước để ghép loài có ý nghĩa. Nuôi một loài, một cỡ giúp cho ăn đúng loại thức ăn, dễ nhìn cá ăn và dễ thu một lần. Muốn nuôi hai loài thì làm hai hồ.
Nước cho hồ bạt: nước giếng, nước máy và cách thay
Nước giếng khoan thường thiếu oxy, có thể có nhiều sắt, khí hoà tan và nhiệt độ lạnh hơn nước hồ. Không nên bơm nước giếng thẳng vào hồ đang có cá. Cách phổ biến là bơm vào một bồn hoặc hồ phụ, để lắng, phơi thoáng và sục khí cho sắt kết tủa, nước ấm lên, rồi mới chuyển sang hồ cá. Nước có màu vàng đỏ, váng sắt là dấu hiệu cần để lắng lâu hơn.
Nước máy có chất khử trùng, có thể hại cá nếu dùng ngay. Để nước máy trong thùng hở, phơi thoáng hoặc sục khí qua một thời gian để chất khử trùng bay bớt trước khi dùng. Nước mưa sạch có thể dùng nhưng nên bỏ những phút mưa đầu cuốn bụi từ mái. Mưa trực tiếp xuống hồ nhiều cũng làm nước loãng, nhiệt độ hạ nhanh; hồ có mái che một phần sẽ đỡ bị sốc hơn trong mùa mưa dầm.
Việc thay nước gồm hai phần: xả cặn đáy và bù nước mới. Xả cặn đáy nên làm thường xuyên qua ống xả, mỗi lần xả một ít cho tới khi nước ra trong. Bù nước mới từ từ, nhiệt độ gần với nước hồ. Mùa nóng, cá ăn nhiều, cần xả và thay nhiều hơn; mùa lạnh thì ít đi. Không thay toàn bộ nước một lần khi cá đang trong hồ. Một cuốn sổ nhỏ ghi ngày xả cặn, lượng nước thay, màu nước và mức cá ăn giúp bạn tìm ra nhịp thay nước hợp với hồ nhà mình sau vài tuần, thay vì phải đoán.
Nắng, nhiệt độ và oxy trong hồ nhỏ
Khối nước nhỏ nóng lên rất nhanh dưới nắng trưa và lạnh nhanh về đêm. Những việc giúp hồ ổn định:
- Che lưới lan một phần mặt hồ, phía nắng chiều; không che kín vì vẫn cần ánh sáng và gió.
- Giữ mực nước đủ sâu; nước nông nóng nhanh hơn.
- Dùng một máy sục khí nhỏ hoặc bơm tuần hoàn tạo dòng nhẹ, nhất là với rô phi.
- Chuẩn bị phương án khi mất điện: một máy bơm chạy pin, hoặc giảm ăn và thay nước sớm nếu biết trước lịch cắt điện.
- Đi dây điện cao, trong ống, có cầu dao chống giật; hồ bạt đặt gần nhà nên điện an toàn là việc bắt buộc.
- Mùa rét ở miền Bắc, có thể che nilon trên hồ để giữ ấm, nhưng chừa khe thoáng khí.
Nhìn cá vào sáng sớm như với ao đất: cá đớp khí dày đặc ở mặt nước, kể cả trê, là lúc phải thay nước và tăng sục khí. Hồ nhỏ đổi trạng thái rất nhanh, nên một buổi sáng bỏ qua việc nhìn cá có thể đủ để mất cả đàn.
Những lỗi hay gặp với hồ bạt nhà làm
Thả cá ngay khi vừa đổ nước. Bạt mới còn bụi và mùi, nước giếng chưa lắng, nước máy còn chất khử trùng. Cá thả vào hôm đầu thường hao, người nuôi tưởng giống kém.
Nuôi dày như ao. Hồ không có đáy bùn tự xử lý, nước nhỏ nên bẩn rất nhanh. Cùng số cá, hồ bạt cần thay nước nhiều hơn hẳn ao đất.
Không làm ống xả đáy. Không có ống, cặn đáy chỉ có thể hút bằng tay hoặc thay toàn bộ nước, việc vừa mệt vừa làm cá sốc.
Để hồ dưới nắng gắt không che. Buổi trưa mùa hè, nước trong hồ nhỏ nóng lên đến mức cá bỏ ăn, nổi đầu, dễ chết.
Không phủ lưới. Chim, mèo, rắn bắt cá; cá lóc, rô, trê nhảy hoặc bò ra ngoài khi mưa. Mất cá kiểu này thường không ai thấy cho tới lúc thu, khi số cá bắt được ít hơn hẳn số đã thả.
Dùng nước xả hồ tưới vườn và giữ yên với hàng xóm
Nước xả từ hồ cá chứa phân cá và thức ăn đã phân huỷ, là nguồn dinh dưỡng tốt cho rau, cây ăn quả. Nhiều nhà dẫn ống xả đáy ra luống rau, gốc cây trong vườn, vừa giải quyết nước thải vừa đỡ phân bón. Nên tưới vào gốc, không tưới lên lá rau ăn sống, và luân phiên chỗ tưới để đất không bị úng.
Không xả nước hồ cá vào cống chung, kênh chung hoặc sang đất nhà bên. Cặn đáy có mùi, đọng lâu sinh muỗi và gây phiền cho hàng xóm. Nếu vườn nhỏ không hút hết nước, có thể làm một hố lắng có trồng cây thuỷ sinh để nước thấm dần.
Hồ bạt đặt sát ranh đất cũng cần để ý tiếng máy sục chạy ban đêm, mùi khi thay nước và chuyện trẻ con nhà bên trèo vào xem cá. Hồ có lưới phủ, máy đặt xa tường nhà người khác và nói trước với hàng xóm là những việc nhỏ nhưng giữ được lâu dài. Nhà có trẻ nhỏ cũng nên để ý chính hồ của mình: thành hồ thấp, nước sâu ngang ngực trẻ là đủ nguy hiểm, cần nắp hoặc rào.
Câu hỏi thường gặp
Hồ lót bạt nuôi được bao nhiêu cá?
Tuỳ thể tích nước, loài cá, khả năng thay nước và có sục khí hay không. Hồ không sục khí nên nuôi thưa hẳn so với hồ có sục khí. Hỏi cán bộ khuyến nông mật độ tham khảo cho loài định nuôi rồi bắt đầu thấp hơn mức đó trong lần đầu.
Bạt nuôi cá dùng được bao lâu?
Tuỳ chất liệu, độ dày và cách dùng. Bạt bị nắng chiếu trực tiếp, bị cọ xát với sỏi hoặc bị gấp nhiều sẽ mau hỏng. Che nắng phần thành bạt nhô trên mặt nước và giữ nền sạch giúp bạt bền hơn.
Có nuôi cá trong hồ bạt mà không thay nước được không?
Với hồ nhỏ thì rất khó. Chỉ những mô hình có hệ thống lọc hoặc quản lý vi sinh chuyên sâu mới giảm thay nước được, và chúng đòi hỏi kỹ thuật, điện, vốn. Hồ nông hộ đơn giản nên coi việc xả cặn và thay nước là phần việc thường ngày.
Nước giếng khoan có màu vàng thì có nuôi cá được không?
Màu vàng đỏ thường do sắt. Nước như vậy cần để lắng, phơi thoáng và sục khí cho sắt kết tủa trước khi dùng. Bơm thẳng vào hồ, sắt có thể bám vào mang cá và làm cá yếu.
Hồ bạt đặt trên sân bê tông có cần lót đệm không?
Nên lót. Mặt bê tông có thể có chỗ gồ, cạnh sắc hoặc sạn nhỏ. Một lớp vải đệm hoặc bao tải cũ giữa bạt và nền giúp bạt không bị cọ thủng khi nước đè và cá quẫy.