Bệnh ghẻ ở thỏ do những con cái ghẻ rất nhỏ sống trên da và trong tai gây ra, lây qua tiếp xúc giữa các con thỏ, qua lồng, dụng cụ và tay người nuôi. Dấu hiệu dễ thấy nhất là thỏ gãi tai, lắc đầu, có lớp vảy nâu xám bong ra trong vành tai; hoặc vảy trắng xám ở mõm, quanh mắt, kẽ chân, kèm ngứa dữ dội, rụng lông. Thỏ ghẻ ăn kém, gầy dần và dễ mắc thêm bệnh khác.
Ghẻ là một trong những bệnh hay gặp nhất ở thỏ nuôi nông hộ, nhất là ở chuồng ẩm, chật, nhập thỏ từ nhiều nguồn. Bệnh ít khi làm thỏ chết nhanh, nhưng làm cả đàn còi, lây dai dẳng và khó dứt nếu chỉ chữa con bệnh mà không xử lý chuồng. Bài này giúp bạn nhận biết, phân biệt với những tình trạng dễ nhầm, và làm sạch chuồng; còn việc dùng thuốc cần theo chỉ định của thú y.
Các dạng ghẻ và bệnh da hay gặp ở thỏ
Trên thỏ có vài loại ký sinh ngoài da khác nhau, mỗi loại ưa một vùng trên cơ thể. Bảng dưới giúp bạn biết nhìn vào đâu:
| Dạng | Vị trí hay gặp | Dấu hiệu chính |
|---|---|---|
| Ghẻ tai | Mặt trong vành tai, sâu vào ống tai | Vảy, cặn nâu xám xếp lớp, thỏ lắc đầu, gãi tai, tai cụp xuống |
| Ghẻ mõm, ghẻ mặt | Mũi, môi, quanh mắt, gốc tai | Vảy trắng xám dày, da dày lên, ngứa nhiều |
| Ghẻ chân | Bàn chân, kẽ ngón, quanh móng | Vảy bám kẽ ngón, móng mọc lệch, thỏ cắn gãi chân |
| Mạt lông | Lưng, gáy | Gàu trắng nhiều trên lưng, lông xơ, ngứa vừa |
| Nấm da (không phải ghẻ) | Đầu, mõm, tai, chân | Mảng tròn rụng lông, có vảy mỏng, có thể lây sang người |
Các dạng này có thể xuất hiện cùng lúc trên một con và nhìn bằng mắt thường không phải lúc nào cũng phân biệt được. Cán bộ thú y có thể cạo vảy soi để biết chắc, từ đó chọn cách xử lý phù hợp; điều đó quan trọng vì ghẻ và nấm cần cách chữa khác nhau.
Ghẻ tai: nhận ra từ khi mới chớm
Ghẻ tai là dạng hay gặp nhất. Lúc mới chớm, chỉ thấy vài vảy nhỏ màu nâu nhạt ở sâu trong vành tai, thỏ thỉnh thoảng gãi tai bằng chân sau, lắc đầu nhiều hơn bình thường. Nhiều người bỏ qua giai đoạn này vì thỏ vẫn ăn uống bình thường.
Để lâu, vảy dày lên thành từng lớp như vỏ bánh tráng khô, màu nâu xám, có khi lấp kín cả lòng tai. Tai thỏ nặng, cụp xuống, mặt trong tai đỏ, có mùi. Thỏ gãi mạnh tới mức làm trầy da quanh tai, sau đó vết trầy nhiễm trùng. Một số ca nặng lan sâu vào trong, thỏ nghiêng đầu, đi loạng choạng.
Cách kiểm tra đơn giản là mỗi tuần một lần, khi bắt thỏ lên xem, lật nhẹ vành tai ra chỗ sáng nhìn vào. Tai sạch có màu hồng nhạt, có vài sợi lông mịn. Thấy vảy dù ít cũng nên tách con đó ra theo dõi, và kiểm luôn tai những con chung lồng. Không tự lấy que nhọn, nhíp cạy vảy, vì làm chảy máu, đau, và vảy cạy ra rơi xuống lồng làm bệnh lây thêm.
Ghẻ tai thường xuất hiện ở cả hai tai, dù một bên có thể nặng hơn. Thấy một tai có vảy thì xem kỹ tai còn lại, và khi được thú y hướng dẫn xử lý thì xử lý cả hai bên chứ không chỉ bên đang nặng.
Ghẻ mõm và ghẻ chân: dạng ngứa dữ dội
Ghẻ ở mõm và mặt thường bắt đầu ở mép mũi hoặc môi, lan ra quanh mắt, gốc tai. Da ở đó dày lên, phủ vảy trắng xám, lông rụng. Thỏ dùng chân trước dụi mặt liên tục, và vì thế ghẻ từ mặt lây sang chân trước. Thỏ ngứa tới mức ăn kém, ngủ không yên, gầy nhanh.
Ghẻ chân bám ở bàn chân, kẽ ngón, quanh gốc móng. Ban đầu chỉ là vảy nhỏ ở kẽ ngón, dễ nhầm với bụi bẩn. Về sau vảy dày, móng mọc lệch, thỏ cắn gãi chân. Thỏ bị ghẻ chân thường đứng không yên trên sàn, hay nhấc chân.
Hai dạng này thường ngứa và lan nhanh hơn ghẻ tai, có thể lây sang những con chung lồng chỉ sau một thời gian ngắn. Một số loại cái ghẻ ở thỏ còn có thể gây ngứa tạm thời ở người tiếp xúc nhiều. Đây là lý do người nuôi nên đeo găng khi bắt thỏ nghi ghẻ và rửa tay kỹ sau đó.
Khi kiểm tra thỏ, nên nhìn mõm và bàn chân trước cùng lúc với tai. Một con có vảy ở mõm mà chân trước sạch là mới chớm; vảy đã lan xuống kẽ ngón chân trước, chân sau thì bệnh đã có từ lâu và các con chung lồng cần được xem kỹ hơn.
Dễ nhầm với ghẻ: phân biệt trước khi xử lý
Nấm da. Mảng rụng lông tròn, rìa rõ, có vảy mỏng như phấn, ít ngứa hơn ghẻ. Nấm có thể lây sang người, nhất là trẻ em, thành những mảng đỏ tròn trên da. Nghi nấm thì càng phải đeo găng và hỏi thú y.
Thay lông theo mùa. Thỏ rụng lông đều trên thân, thấy lông mới mọc bên dưới, da sạch, không vảy, không ngứa nhiều. Đây là bình thường.
Bị cắn khi nhốt chung. Mảng trụi lông ở lưng, đùi, có vết xước, vảy máu khô; thường ở thỏ đực lớn nhốt chung. Cần tách lồng chứ không phải trị ghẻ. Kiểm tra nhanh bằng cách nhìn xem vết trụi có nằm ở chỗ con khác cắn tới được không, và có vết răng không.
Loét gan bàn chân. Vết đỏ, loét ở gan bàn chân sau do sàn lưới cứng, thỏ nặng cân. Không có vảy ở kẽ ngón như ghẻ chân. Cần sửa sàn, thêm tấm nằm nghỉ.
Lông bết vì tiêu chảy. Lông vùng đuôi, mông bết bẩn, rụng do phân dính lâu ngày. Vấn đề nằm ở đường ruột, không phải ở da. Lau sạch, giữ khô và xử lý tiêu chảy thì lông sẽ mọc lại.
Ghẻ lây trong chuồng qua những đường nào
Biết đường lây giúp bạn chặn đúng chỗ. Ở chuồng thỏ nông hộ, ghẻ lan chủ yếu qua:
- Tiếp xúc trực tiếp giữa thỏ bệnh và thỏ lành trong cùng lồng, hoặc qua vách lưới giữa hai lồng sát nhau.
- Vảy ghẻ rơi xuống sàn, khay, chất độn; cái ghẻ trong vảy còn sống được một thời gian ngoài cơ thể thỏ.
- Dụng cụ dùng chung: bàn chải, kéo, máng, giỏ chở, găng tay.
- Tay và quần áo người nuôi khi bắt thỏ bệnh rồi bắt thỏ lành ngay sau đó.
- Thỏ mới mua về mang mầm ghẻ, thả thẳng vào đàn mà không cách ly.
- Chuồng ẩm, chật, thiếu nắng tạo điều kiện cho ghẻ phát triển và lan nhanh.
Nhìn vào danh sách này sẽ thấy: chữa từng con mà không dọn lồng, không cách ly, không đổi thói quen bắt thỏ thì ghẻ sẽ quay lại sau vài tuần. Người nuôi thường nói ghẻ "dai", thật ra là vì nguồn lây trong chuồng chưa được cắt.
Làm gì khi phát hiện thỏ bị ghẻ
Khi thấy một con có dấu hiệu ghẻ, bạn làm theo thứ tự sau:
- Đeo găng, tách con đó sang ô riêng, cách xa dãy lồng chính.
- Kiểm tra tai, mõm, chân của tất cả những con chung lồng và lồng bên cạnh; ghi lại con nào có dấu hiệu.
- Gọi cán bộ thú y xã hoặc bác sĩ thú y để xác định là ghẻ hay nấm, và được hướng dẫn dùng thuốc đúng loại, đúng cách cho thỏ.
- Dọn ngay lồng của con bệnh: bỏ chất độn, cọ khay, rửa máng; vảy và chất độn gom lại đem đốt hoặc chôn sâu, không đổ ra vườn rau.
- Chăm con bệnh sau cùng trong ngày, dùng găng và dụng cụ riêng, rửa tay kỹ sau khi làm.
- Theo dõi những con còn lại hằng tuần trong một thời gian, vì có con đã nhiễm nhưng chưa phát.
Một số thuốc trị ve, bọ chét, ghẻ dùng cho chó mèo lại độc với thỏ. Vì vậy không tự lấy thuốc nhỏ gáy, thuốc tắm của chó mèo dùng cho thỏ, cũng không tự tính liều theo cảm tính. Thỏ được chữa đúng cách thường đỡ ngứa rõ sau một thời gian, nhưng vảy bong hết và lông mọc lại cần lâu hơn.
Những cách chữa truyền miệng nên tránh
Bôi dầu nhớt, dầu hoả, xăng. Đây là cách cũ ở nhiều nơi. Những chất này làm bỏng da, thỏ liếm vào gây ngộ độc, hơi xăng dầu hại đường thở, lại không chắc diệt được ghẻ trong lớp vảy dày. Thỏ bôi dầu thường bỏ ăn vì khó chịu, có con chết vì ngộ độc chứ không phải vì ghẻ.
Tắm thỏ bằng nước lá, nước muối. Tắm ướt cả con dễ làm thỏ nhiễm lạnh, viêm phổi; nước muối làm rát chỗ trầy. Không giải quyết được ghẻ trong tai.
Cạy sạch vảy trong một lần. Làm chảy máu, đau, nhiễm trùng thêm. Vảy sẽ tự bong khi được xử lý đúng.
Rắc vôi bột lên người thỏ. Vôi bột dùng để rắc lối đi, nền chuồng trống, không rắc lên thỏ vì gây bỏng da, bỏng mắt, hại đường thở.
Dùng chung một chai thuốc cho cả nhà. Có nhà lấy thuốc bôi ngoài da của người, của chó mèo, hoặc thuốc trị ghẻ cho heo, bò còn thừa bôi cho thỏ. Mỗi loài chịu thuốc khác nhau, liều tính theo cân nặng khác nhau; dùng sai có thể ngộ độc, nhất là với thỏ nhỏ.
Giữ chuồng sạch ghẻ sau đợt bệnh
Khi đợt ghẻ đã qua, việc làm sạch chuồng quyết định ghẻ có quay lại hay không. Những lồng đã nhốt thỏ ghẻ nên được dọn kỹ: bỏ hết chất độn, cọ lồng và khay bằng nước sạch, xà phòng, phơi nắng thật khô. Lồng nan tre, lồng gỗ khó làm sạch có thể phải thay phần sàn. Việc dùng chất sát trùng nào, nồng độ ra sao, nên hỏi cán bộ thú y, và sau khi sát trùng phải để lồng khô, hết mùi mới cho thỏ vào.
Lồng đã dọn nên để trống một thời gian trước khi nhập thỏ mới. Trong lúc đó, giữ chuồng khô, thoáng, có nắng chiếu vào những lúc không nóng. Ghẻ ưa chỗ ẩm, tối, chật; chuồng khô thoáng là môi trường bất lợi cho chúng.
Về lâu dài, kiểm tai và mõm thỏ hằng tuần, cách ly thỏ mới, không mượn dụng cụ, giỏ chở thỏ của nhà khác là ba thói quen giữ đàn sạch ghẻ. Khi đi xem thỏ ở nhà khác hay ở chợ về, thay quần áo, rửa tay trước khi vào chuồng nhà mình.
Thỏ được ăn đủ, sống trong chuồng khô thoáng thì sức chống chịu với ghẻ cũng tốt hơn. Những đàn thỏ gầy, thiếu cỏ, nhốt chật thường là nơi ghẻ bùng phát mạnh nhất và lâu dứt nhất.
Câu hỏi thường gặp
Bệnh ghẻ thỏ có lây sang người không?
Một số loại cái ghẻ ở thỏ có thể gây ngứa, nổi mẩn tạm thời ở người tiếp xúc nhiều, còn nấm da ở thỏ thì lây sang người rõ hơn. Đeo găng khi bắt thỏ bệnh, rửa tay bằng xà phòng, không để trẻ nhỏ ôm thỏ đang bị bệnh da.
Thỏ bị ghẻ có ăn thịt được không?
Thỏ ghẻ nhẹ đã được chữa khỏi thì không phải lý do để bỏ. Nhưng thỏ đang bệnh, đang dùng thuốc thì không giết mổ, không bán, vì có thể còn tồn dư thuốc; hỏi thú y về thời gian cần chờ sau khi dùng thuốc.
Thỏ gãi tai nhiều nhưng không thấy vảy thì là gì?
Có thể ghẻ mới chớm ở sâu trong ống tai chưa nhìn thấy, cũng có thể do bụi, lông, côn trùng đốt hoặc viêm tai. Tách theo dõi vài ngày; nếu vẫn gãi nhiều, lắc đầu hoặc bắt đầu nghiêng đầu, hỏi thú y.
Ghẻ tai có làm thỏ chết không?
Ghẻ tai hiếm khi làm thỏ chết ngay, nhưng để lâu thỏ ngứa, ăn kém, gầy, vết gãi nhiễm trùng, và có ca lan sâu vào tai trong làm thỏ nghiêng đầu, mất thăng bằng. Chữa sớm thì nhẹ nhàng và nhanh hơn nhiều.
Có cần chữa cả những con chưa có dấu hiệu không?
Những con chung lồng với thỏ ghẻ rất có thể đã nhiễm. Có xử lý cả nhóm hay không, xử lý thế nào, nên để cán bộ thú y quyết định sau khi xem đàn. Việc của người nuôi là kiểm tra và báo đủ thông tin.
Vì sao chữa rồi mà ghẻ vẫn quay lại?
Thường vì lồng, khay, dụng cụ chưa được làm sạch, thỏ khỏi bệnh lại về lồng cũ còn vảy ghẻ, hoặc một con mang bệnh nhẹ chưa được phát hiện. Cần làm sạch toàn bộ chuồng và theo dõi cả đàn, không chỉ con có dấu hiệu.