Cá nổi đầu buổi sáng là dấu hiệu ao thiếu oxy hoà tan: cá ngoi lên đớp lớp nước mặt vì đó là chỗ còn chút oxy từ không khí. Oxy trong ao thấp nhất vào lúc rạng sáng, vì suốt đêm tảo, cá và vi sinh vật dưới đáy đều tiêu oxy mà không có ánh nắng để tảo sinh oxy bù lại. Cá nổi nhẹ rồi lặn khi nắng lên thì cần giảm tải cho ao; cá nổi cả đàn giữa ao, không lặn khi có tiếng động thì phải cứu ngay.
Ao nông hộ thường không có máy đo oxy, nên người nuôi phải đọc từ cá: giờ cá nổi, chỗ cá nổi, loài nào nổi trước. Bài này giúp bạn phân biệt mức độ, làm gì trong một giờ đầu với những dụng cụ sẵn có, và khi nào nổi đầu không còn là chuyện oxy mà là cá đang bệnh. Một đợt nổi đầu nặng có thể làm mất phần lớn cá trong ao chỉ trong một buổi sáng, nên đây là kỹ năng nên học trước cả kỹ năng cho ăn.
Vì sao oxy tụt thấp nhất vào lúc rạng sáng
Ban ngày, tảo trong nước dùng ánh nắng để quang hợp và nhả oxy, cùng với oxy hoà tan từ gió trên mặt nước. Ao có nước xanh vừa phải thường dư oxy vào buổi chiều. Khi trời tối, quang hợp dừng lại nhưng tảo vẫn hô hấp, cá vẫn thở, vi sinh vật vẫn phân huỷ bùn và thức ăn thừa dưới đáy. Tất cả cùng tiêu oxy suốt đêm, nên mức oxy cứ giảm dần và chạm đáy vào khoảng trước và sau lúc mặt trời mọc.
Ao càng nhiều tảo, nhiều bùn, nhiều cá thì chênh lệch giữa chiều và sáng càng lớn. Đó là lý do một ao nước xanh đậm trông rất đẹp vào buổi trưa lại có thể làm cá chết vào sáng hôm sau. Nước xanh đậm nghĩa là lượng tảo lớn, và lượng tảo lớn cũng là lượng tiêu oxy lớn về đêm.
Nhiệt độ làm mọi thứ nặng thêm. Nước càng ấm thì càng giữ được ít oxy, trong khi cá và vi sinh vật lại trao đổi chất nhanh hơn, cần nhiều oxy hơn. Vì vậy những đêm oi nóng mùa hè là lúc chênh lệch giữa cung và cầu oxy lớn nhất. Ao nông nóng lên nhanh hơn ao sâu, nên cùng một mật độ cá, ao nông dễ nổi đầu hơn.
Nắng lên, tảo quang hợp trở lại và oxy tăng dần. Cá nổi do thiếu oxy đơn thuần thường lặn xuống trong vài giờ sau khi có nắng. Nếu đến gần trưa cá vẫn nổi, nguyên nhân có thể không chỉ là oxy.
Đọc mức độ nổi đầu bằng mắt
Không có máy đo, cách nhìn cá dưới đây giúp ước mức độ và quyết định việc phải làm:
| Bạn thấy gì | Mức độ | Việc nên làm |
|---|---|---|
| Vài con đớp khí ven bờ lúc tờ mờ sáng, động mạnh là lặn | Nhẹ | Ngưng cho ăn buổi sáng, kiểm lại mật độ và lượng thức ăn |
| Nhiều con nổi ven bờ, đầu gió, lặn chậm khi có tiếng động | Vừa | Bơm thêm nước sạch, chạy máy sục nếu có, theo dõi tới khi nắng lên |
| Cả đàn nổi giữa ao, không lặn khi vỗ nước | Nặng | Cứu ngay: bơm nước, sục khí, ngừng mọi việc cho ăn và bón |
| Cá lớn nổi, cá mè chết trước, có con nằm nghiêng ven bờ | Rất nặng | Cấp cứu, vớt cá chết, gọi người hỗ trợ nếu cần |
| Cá vẫn nổi tới trưa hoặc nổi cả chiều | Bất thường | Nghĩ tới bệnh, khí độc từ đáy, hỏi cán bộ thú y |
Cá mè thường là loài báo động đầu tiên vì chịu thiếu oxy kém nhất; cá trê, cá lóc nổi sau cùng vì chúng thở được khí trời. Ao nuôi ghép thấy mè ngáp ở mặt nước là lúc nên hành động. Ao nuôi đơn cá lóc hoặc cá trê thì ngược lại: khi chính chúng cũng nổi đầu dày đặc, nước đã xấu tới mức đáng lo, không nên chờ thêm.
Những ngày ao dễ thiếu oxy
Biết trước những ngày nguy hiểm, bạn ra ao sớm hơn và chuẩn bị máy bơm sẵn:
- Trời âm u nhiều ngày liên tiếp: tảo ít nắng nên sinh ít oxy cả ban ngày.
- Oi nóng, lặng gió trước cơn mưa: nước nóng giữ được ít oxy hơn nước mát, mặt ao không có gió để hoà khí.
- Sau trận mưa rào lớn: nước mưa lạnh nằm trên mặt, tầng nước dưới bị cách ly và cạn oxy, có thể bị đảo ngược khi trời trở.
- Nước đổi màu đột ngột từ xanh sang nâu đục, trắng đục hoặc trong vắt: dấu hiệu tảo chết hàng loạt, xác tảo phân huỷ tiêu nhiều oxy.
- Sau những ngày cho ăn nhiều, rải nhiều cỏ hoặc bón phân xuống ao.
- Ao thả dày, ao nông, ao nhiều bùn chưa vét.
Những ngày như vậy nên ra ao vào lúc trời còn tối, khoảng trước khi gà gáy sáng, để kịp thấy cá ngay khi bắt đầu nổi.
Cứu cá khi thấy nổi đầu: làm gì trong giờ đầu
Ao nông hộ thường không có máy sục khí. Với dụng cụ sẵn có trong nhà, thứ tự dưới đây là hợp lý:
- Ngưng cho ăn ngay. Cá đang thiếu oxy không ăn được, mồi rải xuống chỉ thối thêm và tiêu thêm oxy.
- Bơm nước mới từ nguồn sạch như giếng, kênh có nước tốt. Để vòi phun thành tia, đập trên mặt nước để nước hoà thêm khí trên đường rơi.
- Nếu có máy sục, máy quạt nước hoặc bơm tuần hoàn, chạy ngay ở phía cá đang tập trung.
- Không có máy, có thể chèo thuyền nhẹ hoặc dùng gáo té nước trên mặt để khuấy lớp mặt. Tránh khuấy đáy, vì bùn đáy bị đánh lên sẽ tiêu thêm oxy.
- Vớt cá chết ngay khi thấy để không phân huỷ trong ao.
- Theo dõi tới khi cá lặn hết và nắng đã lên. Ghi lại giờ nổi, giờ lặn, loài nào nổi để phân tích sau.
Không đổ hoá chất, thuốc vào ao khi chưa rõ nguyên nhân và chưa có hướng dẫn. Nhiều trường hợp chỉ cần thêm nước và giảm tải là đủ.
Phân biệt thiếu oxy với cá đang bệnh hoặc nhiễm khí độc
Thiếu oxy thường xảy ra theo giờ. Cá nổi lúc rạng sáng, cả đàn nhiều loài cùng nổi, lặn dần khi nắng lên. Hôm sau lặp lại nếu nguyên nhân chưa được giải quyết.
Bệnh thường không theo giờ. Cá bệnh bơi lờ đờ ven bờ cả ngày, tách đàn, có thể thấy lở loét, xuất huyết, mắt lồi, vây rách. Thường một loài bị trước, số chết rải rác qua nhiều ngày.
Khí độc từ đáy có dấu hiệu riêng. Khi khuấy đáy thấy bọt khí và mùi trứng thối, cá nổi kèm bơi loạn, nhất là sau khi kéo lưới hoặc sau mưa. Ao bùn dày chưa vét hay gặp tình trạng này.
Nhiễm độc từ bên ngoài thường đến đột ngột. Cá chết hàng loạt sau khi ruộng bên cạnh phun thuốc hoặc nước lạ tràn vào. Nước có mùi lạ, váng lạ. Trường hợp này cần đóng cống, báo cho chính quyền xã và không bán cá chết.
Những hiểu lầm hay gặp về cá nổi đầu
"Cá nổi đầu là cá đói, rải thêm mồi." Đây là hiểu lầm gây thiệt hại nhiều nhất. Cá ngoi lên vì thiếu oxy chứ không phải vì tìm mồi; rải thêm cám, thêm cỏ lúc này chỉ làm mồi thối dưới đáy và kéo oxy xuống thấp hơn nữa.
"Nước xanh đậm là ao béo, cá mau lớn." Nước xanh vừa phải là tốt. Xanh đậm, sánh như nước sơn là tảo quá dày, ban ngày dư oxy nhưng về đêm tiêu oxy rất mạnh, và dễ tàn đồng loạt.
"Ao nhỏ ít cá thì không lo thiếu oxy." Ao nhỏ, nông nóng lên nhanh vào buổi trưa và giữ ít oxy hơn ao sâu. Ao nhỏ cho ăn dư hoặc nhiều bùn vẫn có thể nổi đầu như ao lớn.
"Cá trê, cá lóc không bao giờ chết ngạt." Chúng thở được khí trời nên chịu đựng tốt hơn, nhưng nước quá xấu và khí độc từ đáy vẫn làm chúng yếu, sinh bệnh. Chịu được không có nghĩa là khoẻ.
"Gặp nổi đầu là phải đổ thuốc." Phần lớn trường hợp chỉ cần thêm nước sạch, khuấy mặt nước và giảm tải. Đổ hoá chất khi chưa rõ nguyên nhân có thể làm tảo chết thêm, oxy tụt sâu hơn.
Một vòng kiểm ao lúc rạng sáng
Mười phút mỗi sáng đi quanh ao theo thứ tự dưới đây giúp bạn phát hiện sớm hầu hết sự cố:
- Đứng ở đầu gió nhìn mặt nước: có vòng gợn nhỏ do cá đớp khí không, ở chỗ nào.
- Đi dọc bờ, vỗ nhẹ tay xuống nước ở vài chỗ: cá lặn nhanh là bình thường, lặn chậm hoặc không lặn là đáng lo.
- Nhìn màu nước so với chiều hôm trước: giữ nguyên, đậm lên hay đổi màu.
- Ngửi ở chỗ cuối ao, gần cống: có mùi tanh lạ, mùi trứng thối không.
- Xem quanh bờ có cá chết, cá nằm nghiêng, cá bơi lờ đờ tách đàn không.
- Ghi vào sổ: giờ, thời tiết, cá nổi hay không, việc đã làm.
Phần lớn sự cố ở ao nhà đều có dấu hiệu từ vài giờ trước khi cá chết; cái thiếu thường là người nhìn thấy kịp lúc. Vòng kiểm này không tốn tiền, chỉ cần thành thói quen.
Phòng nổi đầu từ gốc và khi nào gọi người có chuyên môn
Phòng nổi đầu là giảm lượng tiêu oxy về đêm và tăng lượng oxy cấp vào ao. Về phía giảm tiêu: thả thưa, cho ăn vừa đủ để cá ăn hết trong thời gian ngắn, vớt cỏ thừa mỗi ngày, không bón phân khi nước đã xanh đậm, vét bùn định kỳ. Về phía tăng cấp: giữ mặt ao thoáng gió, không để bèo phủ kín, thay nước khi có nguồn tốt, chuẩn bị một máy bơm hoặc máy sục nhỏ cho những đêm nguy hiểm.
Một thói quen đơn giản giúp rất nhiều: buổi chiều nhìn màu nước. Nước chuyển xanh đậm, sánh, hoặc đổi màu bất thường thì tối đó giảm hoặc ngưng cho ăn và sáng hôm sau ra ao sớm. Sổ ghi chép các lần nổi đầu cho bạn biết ao mình hay gặp vào mùa nào, thời tiết nào.
Gọi cán bộ thú y hoặc khuyến nông xã khi cá vẫn nổi và chết sau khi đã thêm nước, sục khí; khi cá có dấu hiệu bệnh trên thân; khi cá chết nhiều không rõ nguyên nhân; hoặc khi nghi nước bị nhiễm độc từ bên ngoài. Giữ vài con cá vừa chết trong túi sạch để trong mát để người có chuyên môn xem. Cá chết vì bệnh không đem bán, không vứt ra kênh, mà chôn có rắc vôi ở chỗ xa nguồn nước.
Câu hỏi thường gặp
Cá nổi đầu nhưng vẫn ăn bình thường thì có sao không?
Cá còn ăn chứng tỏ tình trạng chưa nặng, nhưng ao đang có dấu hiệu quá tải về đêm. Nên giảm lượng ăn, cho ăn vào giữa buổi sáng thay vì sáng sớm, và xem lại mật độ, lượng bùn, màu nước trước khi tình trạng nặng hơn.
Mưa xong cá nổi đầu có phải do nước mưa độc không?
Thường không phải do nước mưa độc mà do nước mưa làm ao phân tầng, nhiệt độ thay đổi đột ngột và tảo chết bớt. Ao có vùng đất phèn, nước mưa còn rửa phèn từ bờ xuống làm nước chua. Thêm nước sạch và sục khí giúp ổn định lại.
Có nên thả thêm bèo để cá có bóng mát chống nổi đầu không?
Một ít bèo ở góc ao giúp che nắng, nhưng bèo phủ rộng sẽ chặn ánh sáng và gió, làm ao càng thiếu oxy. Bèo cũng tiêu oxy khi chết và thối. Nên khoanh bèo trong khung tre, giữ phần lớn mặt ao thoáng.
Nhà không có máy sục, mua loại nào cho ao nhỏ?
Ao nông hộ có thể dùng máy bơm nước hiện có để phun tia, hoặc máy sục khí, quạt nước nhỏ phù hợp diện tích. Nên hỏi người bán về công suất theo diện tích ao, nguồn điện sẵn có, và luôn đi dây điện an toàn, có cầu dao chống giật.
Cá nổi đầu vào buổi chiều có phải thiếu oxy không?
Buổi chiều oxy thường cao nhất nhờ tảo quang hợp, nên cá nổi vào giờ này ít khi do thiếu oxy đơn thuần. Hãy nghĩ tới bệnh, ký sinh trùng ở mang, khí độc từ đáy, nhiễm độc từ bên ngoài, và hỏi cán bộ thú y.