Nuôi cá trắm cỏ ở ao nhà hợp nhất với hộ có sẵn nhiều thức ăn xanh: cỏ voi, cỏ tự nhiên, lá chuối, bèo, rau lang. Trắm ăn rất nhiều cỏ so với thân mình, nên việc chính hằng ngày là cắt cỏ, cho vào khung và vớt phần thừa trước khi thối. Nếu nước được giữ sạch và cá được ghép với mè, chép để tận dụng phân, ao trắm là một trong những ao ít tốn tiền thức ăn nhất.
Mặt trái của trắm cỏ là thải nhiều phân và nhạy với nước bẩn; trong ao chật, cá dễ mắc bệnh xuất huyết và bệnh đường ruột. Bài này tập trung vào phần nhà nông lo nhiều nhất: cho trắm ăn gì, cho thế nào, ghép với loài nào để nước không thối, và nhận biết bệnh ở mức đủ để gọi người có chuyên môn kịp thời. Phần chọn ao, đào ao và cải tạo ao có trong các bài riêng của chuyên mục; ở đây coi như ao đã sẵn sàng và cá giống đã mua về.
Vì sao trắm cỏ là loài của nhà có vườn
Trắm cỏ có hàm răng hầu khoẻ, nghiền được cỏ, lá non, bèo. Cá ăn liên tục khi nước ấm và ăn một lượng thức ăn xanh rất lớn mỗi ngày. Với nhà có bãi cỏ voi, bờ mương, vườn chuối, đó là nguồn thức ăn gần như không mất tiền, chỉ mất công cắt. Nhiều vùng đồng bằng và trung du đã nuôi trắm theo cách này qua nhiều thế hệ.
Điểm cần hiểu là trắm tiêu hoá thức ăn xanh không triệt để, một phần lớn thải ra dưới dạng phân. Phân này làm nước giàu dinh dưỡng, nuôi tảo và sinh vật nhỏ. Có cá mè, chép, rô phi đi kèm thì phần dinh dưỡng đó được dùng lại; ao chỉ có trắm thì dinh dưỡng tích lại, nước dễ quá đặc và thối.
Vì thế người ta hay nói nuôi trắm là nuôi cả ao. Lượng trắm trong ao nên vừa với lượng cỏ bạn cắt được mỗi ngày trong mùa ít cỏ nhất, không phải mùa nhiều cỏ nhất. Thả theo mùa cỏ dày, đến mùa khô hoặc mùa đông thiếu cỏ thì cá đói, gầy và dễ bệnh.
Thức ăn xanh và thức ăn tinh cho trắm cỏ
Không phải lá xanh nào cũng cho cá ăn được. Bảng dưới gom những nguồn hay dùng ở nông hộ và điều cần để ý:
| Loại thức ăn | Cá ăn thế nào | Điều cần để ý |
|---|---|---|
| Cỏ voi, cỏ sả | Cắt non, cá lớn ăn cả cây; cá nhỏ nên băm | Cỏ già nhiều xơ, cá bỏ thừa nhiều |
| Cỏ tự nhiên ven bờ, bờ ruộng | Ăn tốt khi còn non | Không cắt ở bờ ruộng vừa phun thuốc, ven đường xe nhiều bụi |
| Lá chuối, thân chuối non | Thái nhỏ hoặc để nguyên tàu lá cho cá rỉa | Dùng xen, không làm nguồn duy nhất |
| Bèo tấm, bèo dâu | Hợp cá nhỏ mới thả | Thả trong khung, không để lan kín mặt ao |
| Rau lang, rau muống, rau khoai | Ăn cả lá và ngọn | Rửa nếu lấy từ ruộng có phun thuốc |
| Thân, lá ngô non | Băm ngắn | Không dùng cây ngô đã khô vàng |
| Cám gạo, ngô nghiền, thức ăn viên | Bổ sung khi thiếu cỏ hoặc muốn cá lớn nhanh | Rải ở chỗ riêng, cho lượng vừa đủ |
Khi đổi loại thức ăn, nên đổi dần trong vài ngày. Đổi đột ngột, nhất là cho ăn nhiều thức ăn tinh sau thời gian chỉ ăn cỏ, dễ làm cá rối loạn tiêu hoá. Không cho cá ăn cỏ đã ủ đống, cỏ héo bốc mùi, rau thối.
Làm khung và cho ăn cỏ hằng ngày
Khung cho ăn giữ cỏ ở một chỗ, giúp bạn nhìn được cá ăn bao nhiêu và vớt phần thừa dễ dàng:
- Làm khung vuông hoặc chữ nhật bằng tre, buộc nổi trên mặt nước, cắm cọc giữ cho khỏi trôi. Đặt ở chỗ thuận đi lại, gần bờ.
- Cắt cỏ vào buổi sáng, cho vào khung một lần hoặc chia hai lần trong ngày.
- Lượng cỏ đúng là lượng cá ăn gần hết trong ngày, chỉ còn cọng già. Sáng hôm sau còn nhiều cỏ xanh trong khung là đã cho dư.
- Chiều hoặc sáng hôm sau, vớt toàn bộ cọng thừa, cỏ già lên bờ. Phần này để khô làm phân ủ, không vứt lại xuống ao.
- Mỗi ngày nhìn mức ăn: cá ăn mạnh, rỉa sạch khung là khoẻ; cá ăn chậm hẳn là dấu hiệu cần để ý nước và bệnh.
- Trời âm u, mưa dầm, lạnh hoặc sáng cá nổi đầu thì giảm lượng cỏ.
Cỏ thừa thối dưới nước là nguyên nhân hàng đầu làm ao trắm hỏng nước. Thà cho thiếu một chút rồi bổ sung còn hơn để cỏ ngâm qua đêm.
Ghép trắm với loài nào để ao tự cân bằng
Mè trắng, mè hoa. Ăn tảo và sinh vật nhỏ sinh ra nhờ phân trắm. Thiếu mè, nước ao trắm thường xanh đậm quá mức.
Chép. Ăn ở tầng đáy, nhặt cặn thức ăn và sinh vật đáy. Không nên thả nhiều vì chép bới làm đục nước.
Trôi, rô hu. Ăn mùn đáy và tảo bám, tận dụng phần trắm và chép bỏ lại.
Rô phi. Ăn tạp, tận dụng thức ăn tinh rơi vãi và cỏ vụn. Hợp ao vùng ấm; ở miền Bắc phải tính chuyện mùa lạnh.
Tỷ lệ. Trắm là loài chính, chiếm phần lớn số con; các loài phụ chia nhau phần còn lại. Mật độ cụ thể theo hướng dẫn khuyến nông địa phương. Tránh ghép cá lóc vào ao có cá giống nhỏ của các loài trên.
Thả loài phụ sau hay cùng lúc. Thả cùng đợt cho đơn giản; nếu mua được trắm trước thì cho trắm vào ao vài tuần, khi nước bắt đầu lên màu nhờ phân trắm mới thả mè, để mè có sẵn mồi ngay từ đầu. Chép và trôi có thể thả sau cùng.
Nước ao trắm: thay nước, vớt rác và nhìn màu
Ao trắm cần nhiều nước sạch hơn ao rô phi hay ao cá trê. Có nguồn nước tốt, nên thay một phần nước định kỳ, nhất là vào mùa nóng khi cá ăn mạnh và thải nhiều. Thay từ từ, lấy nước qua lưới lọc, tránh thay quá nhiều một lần làm cá sốc nhiệt. Ao không có nguồn thay nước thì phải bù bằng cách thả thưa hơn và cho ăn cỏ dè hơn, chấp nhận cá lớn chậm hơn một chút để đổi lấy nước ổn định.
Màu nước tốt cho ao trắm là xanh nhạt đến xanh vỏ đậu. Nước chuyển xanh đậm, sánh, có váng là dư dinh dưỡng: giảm cỏ, giảm thức ăn tinh, thay nước. Nước chuyển nâu đen, có mùi là đáy bắt đầu thối: kiểm lại xem có cỏ thừa chìm dưới đáy không, cân nhắc vét bùn khi có dịp.
Mỗi tuần nên đi một vòng vớt rác, lá rụng, xác cỏ dạt vào góc ao. Những góc khuất gió là nơi cỏ thừa và rác tụ lại, phân huỷ và tạo vùng nước xấu cục bộ. Ở ao trắm, nước sạch hay bẩn thường phụ thuộc vào thói quen vớt cỏ không kém gì mật độ cá.
Bệnh hay gặp ở trắm cỏ: nhận biết ở mức nông hộ
Trắm cỏ nhạy với nước bẩn và thay đổi thời tiết. Những dấu hiệu dưới đây giúp bạn biết khi nào cá có vấn đề; xác định bệnh và dùng thuốc là việc của cán bộ thú y:
- Bệnh xuất huyết do virus: cá có đốm đỏ ở gốc vây, nắp mang, miệng, cơ thịt đỏ khi mổ; hay bùng lên lúc giao mùa và có thể làm chết nhiều, nhất là cá năm đầu.
- Bệnh đốm đỏ, lở loét: vết đỏ trên thân, vảy rụng, loét sâu dần; thường đi kèm nước bẩn và cá xây xát.
- Bệnh đường ruột: cá bỏ ăn, bụng chướng, hậu môn đỏ; hay gặp khi cho ăn cỏ thối hoặc đổi thức ăn đột ngột.
- Ký sinh trùng ở mang, da: cá cọ mình, nổi đầu cả ngày, mang nhợt hoặc nhiều nhớt.
- Rận cá, trùng mỏ neo: thấy được bằng mắt thường bám trên thân, vây.
Phòng là chính: mua giống ở nơi rõ nguồn, không cho ăn cỏ thối, vớt cỏ thừa, giữ nước sạch, giảm ăn khi trời chuyển mùa. Khi cá chết rải rác nhiều ngày hoặc thấy dấu hiệu trên nhiều con, gọi cán bộ thú y xã. Không tự mua thuốc, kháng sinh trộn vào cỏ. Cá chết vì bệnh chôn có rắc vôi ở chỗ xa nguồn nước, không vứt ra kênh, không bán.
Những sai lầm hay gặp khi mới nuôi trắm
Thả theo mùa cỏ nhiều. Đầu mùa mưa cỏ mọc khắp nơi, người mới thả nhiều trắm. Đến mùa khô hoặc mùa rét, cỏ khan, cá đói và gầy, đàn dễ bệnh. Tính số cá theo lượng cỏ ít nhất trong năm.
Đổ cỏ thẳng xuống ao, không có khung. Cỏ trôi khắp ao, dạt vào góc, chìm xuống đáy. Bạn không biết cá ăn bao nhiêu, cũng không vớt được phần thừa.
Cắt cỏ ở bất cứ đâu. Cỏ ven đường nhựa, bờ ruộng vừa phun thuốc, gần bãi rác đều có thể mang chất độc vào ao. Một bó cỏ sai chỗ có thể làm chết cả đàn.
Để ao thuần trắm. Không có mè, chép tận dụng phân, nước xanh đậm rồi chuyển đen rất nhanh trong mùa nóng.
Kéo lưới giữa trưa nắng. Trắm vùng vẫy mạnh, mất sức nhanh trong nước nóng, xây xát rồi nhiễm bệnh. Bắt cá luôn làm vào sáng sớm hoặc chiều mát.
Thu hoạch trắm và bán ở nông hộ
Trắm cỏ lớn tốt trong những năm đầu, nên nhiều nhà nuôi qua hơn một mùa để có cá cỡ lớn. Đánh tỉa những con đạt cỡ ăn bằng lưới kéo, giữ lại cá nhỏ, rồi thả bù cá giống cỡ lớn. Cá trắm to khoẻ, vùng vẫy mạnh khi kéo lưới, nên cần hai ba người và một chỗ đặt cá có nước ngay bờ ao.
Trước khi bắt, ngưng cho ăn từ hôm trước để ruột cá rỗng, cá đỡ chết khi giữ và thịt sạch hơn. Kéo lưới chậm ở phần đáy để không khuấy bùn quá nhiều, vì cá còn lại trong ao sẽ chịu đợt nước đục và thiếu oxy ngay sau đó.
Cá trắm lớn bắt lên khó giữ sống lâu trong thau nhỏ. Nếu chưa bán ngay, thả cá vào một lồng lưới đặt trong chính ao hoặc một bể có nước chảy, che mát. Cá đã xây xát nặng nên dùng trong nhà sớm thay vì giữ lại chờ bán.
Bán tại nhà, bán cho người quen trong xóm là kênh của phần lớn ao nhỏ. Không bán cá đang bệnh hoặc cá đang trong thời gian dùng thuốc theo hướng dẫn của thú y. Cá nuôi bằng cỏ vườn là điều nên nói thật với người mua; không nên hứa thêm những điều không kiểm chứng được về chất lượng thịt.
Câu hỏi thường gặp
Trắm cỏ ăn bao nhiêu cỏ mỗi ngày?
Không có con số cố định vì phụ thuộc cỡ cá, nhiệt độ và loại cỏ. Cách thực tế là cho lượng cá ăn gần hết trong ngày, chỉ còn cọng già, rồi tăng giảm theo mức ăn. Mùa nóng cá ăn nhiều, mùa lạnh ăn ít hẳn.
Có cho trắm ăn cỏ đã phun thuốc diệt cỏ không?
Không. Thuốc diệt cỏ và thuốc bảo vệ thực vật có thể gây độc cho cá và tồn dư trong thịt. Chỉ cắt cỏ ở chỗ chắc chắn không phun thuốc, hoặc đã qua thời gian cách ly ghi trên nhãn thuốc.
Nuôi trắm cỏ có cần cho ăn cám không?
Không bắt buộc. Thức ăn xanh là chính; cám, ngô nghiền, thức ăn viên dùng bổ sung khi thiếu cỏ, khi cá còn nhỏ hoặc khi muốn cá lên cỡ nhanh. Cho thức ăn tinh ở chỗ riêng và vừa đủ để không dư thừa.
Ao chỉ có trắm cỏ, không ghép loài khác được không?
Được nhưng nước nhanh bẩn hơn, vì phân trắm không có loài nào tận dụng. Bạn sẽ phải thay nước nhiều hơn, vớt cỏ kỹ hơn, và thả thưa hơn so với ao nuôi ghép cùng mè, chép.
Mùa đông miền Bắc trắm cỏ có cần cho ăn không?
Trắm chịu lạnh tốt hơn rô phi nhưng ăn rất ít khi nước lạnh. Cho một ít cỏ non vào những ngày trời ấm, vớt phần thừa kỹ. Giữ mực nước sâu và hạn chế kéo lưới trong mùa rét để cá không xây xát.
Thấy trắm chết có đốm đỏ thì xử lý ra sao?
Vớt cá chết ngay, ngưng hoặc giảm cho ăn, giữ vài con mẫu trong túi sạch và báo cán bộ thú y xã để xác định bệnh. Không bán, không vứt cá chết ra kênh. Không tự trộn thuốc khi chưa có chỉ định.