Nuoi.netNuôi
Nuôi bò và dê

Cách nuôi dê thịt cho người mới: chọn dê, thức ăn lá, chăn thả và bệnh hay gặp

Nuôi dê thịt hợp với hộ có đồi, bờ bãi nhiều cây lá và chuồng khô ráo. Dê khác bò ở đâu, chọn dê khoẻ, thức ăn lá, chăn thả không phá vườn, bệnh hay gặp.

A small herd of goats grazing among shrubs on a rocky limestone hillside in Ninh Binh, a herder in a conical hat walking far behind, misty morning

Nuôi dê thịt hợp với hộ có đồi, bờ bãi, vườn tạp nhiều cây lá, có người chăn hoặc có đất để cắt lá về cho ăn, và làm được một chuồng sàn khô ráo. Dê ăn tạp các loại lá, mau lớn hơn bò tính theo vòng quay, chiếm ít chỗ, nhưng rất sợ ẩm, hay leo trèo, phá vườn và dễ mắc bệnh đường hô hấp, ký sinh trùng nếu chuồng bẩn.

Người mới thường nghĩ dê "dễ nuôi, thả đâu ăn đó". Thật ra dê dễ nuôi khi người nuôi hiểu đúng tập tính của nó và khó nuôi khi bị nuôi như bò. Bài này đi qua những điều cần biết để bắt đầu với một đàn nhỏ. Cách làm chuồng sàn cho dê có bài riêng; phối giống, dê đẻ, chăm dê con sơ sinh thuộc mảng sinh sản và không nằm trong bài này.

Dê khác bò ở chỗ nào khi nuôi

Dê thích ăn lá hơn ăn cỏ. Bò cúi gặm cỏ sát đất; dê thích vươn lên ăn lá cây bụi, ngọn non, vỏ cây. Một bãi chỉ có cỏ thấp sẽ không đủ cho dê, còn một bờ rào nhiều cây lá lại là bữa ăn tốt.

Dê kén ăn và ăn đa dạng. Dê ngửi kỹ, chê thức ăn bẩn, dính phân hay bị dẫm đạp. Cho ăn trên giàn, máng treo thay vì vứt xuống nền là cách đỡ phí.

Dê rất sợ ẩm. Nền ướt, mưa dầm, chuồng bí là nguyên nhân chính của viêm phổi, thối móng, tiêu chảy ở dê. Đây là lý do chuồng dê thường làm kiểu sàn cao.

Dê leo trèo giỏi và tò mò. Rào thấp, rào thưa không giữ được dê. Dê nhảy lên bờ tường, mái thấp, đứng lên chân sau để ăn cây ăn trái của nhà bên.

Dê sống theo bầy. Một con dê nuôi lẻ hay kêu, bỏ ăn. Đàn nhỏ vài con sẽ yên hơn và dễ chăn hơn một con.

Dê có mùi. Dê đực trưởng thành có mùi hôi đặc trưng, dễ gây phàn nàn khi chuồng gần nhà hàng xóm. Đàn chỉ nuôi lấy thịt nên tính trước chỗ đặt chuồng.

Bắt đầu bao nhiêu con và chọn dê khoẻ

Hộ mới nuôi nên bắt đầu với một đàn nhỏ, đủ để dê có bầy mà người nuôi vẫn theo dõi được từng con. Khi mua, dành thời gian xem đàn dê lúc ăn và lúc đi lại:

  • Mắt sáng, linh hoạt; mí mắt trong có màu hồng đỏ. Mí trong trắng nhợt là dấu hiệu thiếu máu, hay gặp khi dê nhiễm giun nặng.
  • Mũi sạch, không chảy dịch đặc; dê không ho, không thở khò khè.
  • Lông mượt, không rụng từng mảng, da không có vảy, ghẻ, nốt loét.
  • Miệng không có mụn, vảy ở môi, mép; dê có vảy sùi quanh miệng có thể đang bị viêm loét miệng truyền nhiễm.
  • Chân, móng đứng vững, đi không khập khiễng, móng không thối, không có mùi hôi.
  • Phân thành viên rời, khô; phân dính bết quanh đuôi, nát là dấu hiệu rối loạn tiêu hoá.
  • Nguồn mua rõ ràng, hỏi được lịch tiêm phòng, tẩy giun; tránh mua dê dồn từ nhiều nơi về một chợ.

Mua về thì nhốt riêng vài tuần, theo dõi, nhờ thú y kiểm tra và hướng dẫn tẩy giun, tiêm phòng trước khi nhập đàn. Chọn dê theo giống quý hay giống lai là chuyện khác; với người mới, dê khoẻ, quen với khí hậu vùng mình quan trọng hơn tên giống.

Dê ăn gì: lá, cỏ, phụ phẩm và những thứ phải cẩn thận

Thức ăn của dê chia làm mấy nhóm. Một khẩu phần tốt là có nhiều loại, thay đổi từ từ, không dồn một loại:

Nhóm thức ănVí dụ thường gặpCần lưu ý
Lá cây, cây bụiLá mít, lá chuối, lá keo dậu, lá dâm bụt, lá cây họ đậu, cành nonKeo dậu tốt nhưng chỉ nên chiếm một phần khẩu phần vì có chất gây hại nếu ăn nhiều, kéo dài
Cỏ trồng, cỏ tự nhiênCỏ voi, cỏ sả, cỏ lông tây, cỏ bờ ruộngCắt về để ráo, không cho ăn cỏ ướt sương, cỏ dính bùn
Phụ phẩmVỏ chuối, thân lá ngô, dây lang, bã đậu, ngọn míaKhông cho ăn đồ ôi, mốc; đổi khẩu phần từ từ
Thức ăn tinhCám gạo, bột ngô, sắn lát khôChỉ bổ sung lượng nhỏ, nhất là cho dê vỗ trước khi bán
Phải tránh hoặc rất thận trọngLá sắn tươi, cây trúc đào, cây lạ chưa biết tên, lá cây vừa phun thuốc trừ sâuCó thể gây ngộ độc; không biết chắc thì không cho ăn

Dê cần nước sạch dù ăn nhiều lá tươi, nhất là mùa nắng. Muối và khoáng có thể bổ sung bằng đá liếm treo trong chuồng. Thức ăn nên đặt trên giàn hoặc trong máng treo ngang tầm đầu dê, có khe để dê thò đầu vào ăn; cách này giảm lãng phí rõ so với rải trên sàn, và giảm lây giun sán vì dê không ăn phải thức ăn dính phân.

Chăn thả dê mà không phá vườn, không vào rừng

Phần lớn hộ nuôi dê ở nông thôn kết hợp chăn thả ban ngày và nhốt chuồng ban đêm. Chăn thả giúp dê vận động, ăn được nhiều loại lá, giảm công cắt lá, nhưng nếu thả không người trông thì dê sẽ tìm đến vườn rau, cây ăn trái, rẫy nhà bên trước tiên. Đây là nguồn gốc của rất nhiều chuyện xích mích trong xóm.

Vài nguyên tắc giúp chăn thả êm: có người đi theo đàn hoặc có bãi chăn được rào chắn; tập cho dê quen một tiếng gọi, một tiếng kẻng để gom đàn; chọn dê đầu đàn hiền, đeo chuông để dễ biết đàn đang ở đâu; không thả dê lúc sáng sớm sương còn đẫm hoặc ngay sau mưa lớn, vì cỏ lá ướt dễ làm dê chướng bụng và nhiễm giun.

Dê không nên thả vào rừng phòng hộ, rừng đặc dụng hoặc rừng mới trồng: dê gặm cây non, bóc vỏ cây, làm hỏng rừng và người nuôi có thể bị xử lý theo quy định về bảo vệ rừng. Ở vùng đồi, nên thỏa thuận rõ với các hộ xung quanh về bãi chăn chung và mùa nào được thả.

Đổi bãi chăn luân phiên là cách đơn giản để giảm giun sán: trứng giun theo phân dê rơi xuống bãi, nếu ngày nào cũng thả một chỗ thì dê sẽ nhiễm lại liên tục. Chia bãi làm vài khu, thả lần lượt, để mỗi khu có thời gian nghỉ.

Một ngày nuôi dê ở nông hộ

Dê không cần nhiều công như bò nhưng cần nhìn kỹ hơn, vì dê ốm thường lặng lẽ, đến lúc nằm bẹp mới lộ ra. Nhịp một ngày của hộ nuôi đàn nhỏ, chăn thả ban ngày, nhốt ban đêm:

  1. Sáng: đếm đủ đầu dê, nhìn con nào nằm riêng, không đứng dậy khi người tới, mũi chảy dịch, phân bết đuôi.
  2. Quét phân dưới gầm sàn hoặc trên sàn, gom vào hố ủ; thay nước uống, rửa máng.
  3. Cho ăn một ít lá hoặc cỏ khô trên giàn trước khi thả, để dê không đói cồn cào ăn vội cỏ ướt ngoài bãi.
  4. Thả dê khi sương đã ráo, có người đi theo hoặc thả vào khu bãi có rào; mùa nắng chọn bãi có bóng cây và nguồn nước.
  5. Trong ngày, người ở nhà cắt lá, cỏ cho bữa chiều, phơi ráo, bó lại treo lên giàn.
  6. Chiều: lùa dê về sớm trước khi trời tối và trước cơn mưa, đếm lại đàn, cho ăn bữa chiều trên giàn.
  7. Tối: kiểm tra cửa chuồng, bạt che phía gió, nghe xem có con nào ho, thở khò khè.

Mỗi tuần dành một lúc xem kỹ từng con: lật mí mắt xem màu, sờ lưng xem gầy hay béo, nhìn móng. Ghi những gì thấy vào sổ cùng ngày tẩy giun, tiêm phòng theo hướng dẫn thú y. Đàn nhỏ mà ghi chép đều thì chỉ sau một mùa mưa, người nuôi đã biết con nào hay ốm, bãi nào làm dê hay nhiễm giun.

Bệnh hay gặp ở dê và khi nào gọi thú y

Phần dưới chỉ để nhận biết sớm và biết lúc nào phải gọi người có chuyên môn. Chẩn đoán và điều trị là việc của thú y; không tự tiêm thuốc theo lời mách:

Bệnh, vấn đềDấu hiệu dễ thấyNgười nuôi nên làm
Viêm phổi, bệnh hô hấpHo, chảy nước mũi, thở nhanh, sốt, ủ rũ, hay gặp khi chuồng ẩm, trời trở lạnhGiữ chuồng khô, kín gió lùa, tách con ốm, gọi thú y
Giun sán, nhất là giun dạ múi khếGầy dần, lông xơ, mí mắt trong nhợt nhạt, có khi phù dưới hàmNhờ thú y kiểm tra, tẩy giun theo hướng dẫn, đổi bãi chăn
Tiêu chảyPhân nát, bết đuôi, dê mệt, bỏ ănKiểm tra thức ăn ôi mốc, đổi thức ăn đột ngột; kéo dài hoặc có máu thì gọi thú y
Viêm loét miệng truyền nhiễmMụn, vảy sùi ở môi, mép, dê ăn khóCách ly, đeo găng khi chạm vì bệnh có thể lây sang người qua vết xước, báo thú y
Chướng hơiBụng trái căng phồng, khó thở, đứng không yênGọi thú y ngay, không cho ăn thêm, dắt đứng chỗ đầu cao
Thối móngĐi khập khiễng, kẽ móng có mùi hôiGiữ sàn khô, làm sạch móng, nhờ thú y xử lý

Dê cũng mắc lở mồm long móng như trâu bò. Khi thấy mụn nước ở miệng, chân, nhiều con trong đàn cùng bỏ ăn hoặc chết bất thường, phải báo thú y xã ngay, không bán chạy, không giết mổ, không vứt xác dê ra ngoài. Lịch tiêm phòng cho dê theo hướng dẫn của thú y địa phương.

Còn cừu thì sao

Cừu và dê hay bị gộp chung nhưng nuôi khá khác. Cừu gặm cỏ sát đất giống bò hơn là vươn lên ăn lá như dê, đi theo bầy rất sát, ít leo trèo, hiền và dễ lùa hơn dê. Cừu cần đồng cỏ thấp, khô, và chịu được nắng gió của vùng khô hạn.

Ở nước ta, cừu được nuôi nhiều nhất ở vùng khô hạn ven biển Nam Trung Bộ, quanh khu vực Ninh Thuận cũ, nay thuộc tỉnh Khánh Hòa sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025. Khí hậu khô, ít mưa ở đây hợp với cừu. Ở những vùng mưa nhiều, ẩm thấp kéo dài, cừu dễ mắc bệnh móng, bệnh đường hô hấp, ký sinh trùng và lông ẩm khó khô.

Vì vậy với phần lớn hộ ở đồng bằng Bắc Bộ, miền Tây Nam Bộ hay vùng mưa nhiều, dê thường là lựa chọn dễ hơn cừu. Nếu vẫn muốn thử nuôi cừu, nên đi xem các hộ đang nuôi ở vùng khí hậu tương tự, chuẩn bị chuồng sàn hoặc chuồng nền cao thật khô, bãi chăn thoát nước tốt, và hỏi thú y về các bệnh cừu hay gặp ở địa phương mình.

Câu hỏi thường gặp

Nuôi dê có cần chăn thả không hay nhốt hoàn toàn được?

Nhốt hoàn toàn được nếu hộ có đủ nguồn lá, cỏ để cắt về hằng ngày và chuồng đủ rộng, có sân chơi. Phần lớn nông hộ chọn chăn thả ban ngày, nhốt ban đêm vì dê cần vận động và thích ăn đa dạng lá cây.

Dê có ăn được lá keo dậu không?

Ăn được và dê rất thích, đây là nguồn đạm tốt. Nhưng keo dậu có chất có thể gây hại khi ăn nhiều liên tục, nên chỉ cho chiếm một phần khẩu phần, trộn với lá và cỏ khác. Hỏi cán bộ khuyến nông về tỷ lệ phù hợp.

Vì sao dê hay bị viêm phổi?

Dê rất nhạy với ẩm và gió lùa. Chuồng nền đất ẩm, sàn bẩn, mưa dầm, trời trở lạnh đột ngột, chuồng bí mùi nước tiểu đều làm dê dễ mắc bệnh hô hấp. Chuồng sàn khô, thoáng mà không lùa gió là cách phòng tốt nhất.

Dê nuôi bao lâu thì bán được?

Tuỳ giống, cách nuôi và cân nặng thị trường chấp nhận ở từng vùng, thường tính bằng tháng tới hơn một năm. Không có con số chung đúng cho mọi nhà; nên hỏi các hộ nuôi dê và thương lái trong vùng để biết cỡ dê được ưa chuộng.

Nuôi dê gần nhà có bị hôi không?

Dê cái và dê thiến ít mùi hơn dê đực trưởng thành. Chuồng sàn dọn phân thường xuyên, phân được ủ, chuồng đặt cuối hướng gió thì mùi giảm nhiều. Nếu nhà sát vách hàng xóm, nên trao đổi trước khi bắt đầu nuôi.

Bệnh viêm loét miệng ở dê có lây sang người không?

Bệnh viêm loét miệng truyền nhiễm ở dê, cừu có thể lây sang người qua tiếp xúc với vết loét, nhất là khi tay có vết xước. Khi chăm dê có mụn, vảy ở miệng, nên đeo găng, rửa tay kỹ và báo thú y để được hướng dẫn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.