Với hộ nuôi bò, dê, trồng cỏ là cách chủ động thức ăn chắc nhất: chọn một hai loại cỏ thân cao năng suất làm nền, thêm một loại cây họ đậu để bổ sung đạm, trồng trên đất đã bón phân chuồng hoai, cắt đúng lứa và bón lại sau mỗi lần cắt. Như vậy mùa mưa có cỏ tươi dư dùng, phần dư ủ chua để dành cho mùa khô.
Không có một loại cỏ tốt nhất cho mọi nhà. Cỏ hợp hay không phụ thuộc vào đất, nước, khí hậu vùng mình và cách nuôi nhốt hay chăn thả. Bài này giới thiệu các nhóm cỏ hay được trồng ở nông hộ, cách chọn, cách trồng và chăm, và cách ước lượng cần bao nhiêu đất cỏ cho đàn bò, dê của mình.
Vì sao nên trồng cỏ thay vì chỉ đi cắt cỏ dại
Cỏ bờ ruộng, ven đường, cỏ dại trong vườn vẫn nuôi được bò dê, và ở nhiều vùng đó là nguồn thức ăn chính. Nhưng nguồn này có ba điểm yếu: lượng không ổn định, mùa khô gần như không có; chất lượng thất thường, lẫn cỏ già, cỏ độc; và có nguy cơ dính thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu từ ruộng bên cạnh.
Cỏ trồng giải quyết được phần lớn chuyện đó. Một mảnh cỏ được chăm cho năng suất cao hơn nhiều so với cùng diện tích cỏ tự nhiên, cắt đúng lứa nên cỏ non, mềm, bò dê ăn hết. Người nuôi biết chính xác mảnh cỏ nhà mình được bón gì, phun gì, nên yên tâm hơn về an toàn.
Trồng cỏ cũng giúp tính toán quy mô đàn. Khi biết mỗi lứa cắt được khoảng bao nhiêu cỏ trên mảnh đất của mình, người nuôi có cơ sở để quyết định nuôi thêm hay giữ nguyên số con, thay vì nhập thêm bò rồi mới lo thiếu cỏ. Chuyện quy hoạch đất trang trại, thiết kế mặt bằng nằm ở mảng khác; ở đây chỉ bàn mảnh cỏ của nông hộ nuôi bò dê.
Các nhóm cỏ và cây thức ăn hay trồng ở nông hộ
Tên giống cỏ thường thay đổi theo vùng và theo nơi bán hom, hạt; dưới đây chia theo nhóm để dễ hình dung. Hỏi trạm khuyến nông hoặc các hộ nuôi bò trong vùng xem giống nào đang mọc tốt ở đất nhà mình:
| Nhóm | Ví dụ | Đặc điểm | Hợp với |
|---|---|---|---|
| Cỏ thân cao, năng suất cao | Cỏ voi và các giống lai của cỏ voi | Thân to, lá dài, cho nhiều chất xanh mỗi lứa; cần đất tốt, nước và phân | Nuôi nhốt, cắt về cho ăn; cần băm ngắn khi thân to |
| Cỏ sả và họ hàng | Cỏ sả lá lớn, cỏ sả lá nhỏ | Mọc thành bụi, lá mềm, chịu hạn và chịu bóng khá | Vừa cắt vừa chăn; trồng xen dưới tán cây ăn trái thưa |
| Cỏ thấp chăn thả | Các loại cỏ lông, cỏ ruzi và giống lai cùng nhóm | Thân bò, phủ đất nhanh, chịu dẫm | Bãi chăn thả, đất dốc cần giữ đất |
| Cỏ chịu ẩm, chịu ngập | Cỏ lông tây (cỏ para) | Mọc tốt ở đất trũng, ven ao, ven kênh | Vùng thấp, đất ẩm không trồng được cỏ voi |
| Cây họ đậu | Cỏ stylo, keo dậu, các loại đậu làm thức ăn | Giàu đạm hơn cỏ hoà thảo, rễ cố định đạm làm tốt đất | Trồng xen hoặc thành hàng rào, cho ăn bổ sung |
Đa số nông hộ chọn một loại cỏ thân cao làm nguồn chính, một loại chịu hạn hoặc chịu ngập tuỳ đất, và một hàng cây họ đậu ven rào. Trồng nhiều loại giúp đàn có khẩu phần đa dạng và giảm rủi ro khi một loại gặp sâu bệnh hoặc thời tiết xấu.
Chọn cỏ theo đất, nước và cách nuôi
Đất tốt, có nước tưới. Nên ưu tiên cỏ thân cao năng suất cao. Loại cỏ này phát huy hết sức khi đủ nước, đủ phân; trồng trên đất bạc màu, không tưới thì năng suất tụt mạnh.
Đất đồi, khô hạn, không tưới được. Cỏ sả, cỏ chăn thả chịu hạn và cây họ đậu như stylo thường hợp hơn. Mùa khô cỏ chậm lại nhưng ít chết hơn các giống cần nước.
Đất trũng, hay ngập. Cỏ chịu ngập như cỏ lông tây mọc tốt ở chỗ mà cỏ voi bị úng thối gốc.
Nuôi nhốt hoàn toàn. Cần cỏ cắt về được nhiều, đều; cỏ thân cao là xương sống, thêm cây họ đậu.
Chủ yếu chăn thả. Cần cỏ chịu dẫm, mọc lại nhanh sau khi bị gặm; chia bãi để luân phiên.
Nuôi dê. Dê thích lá hơn cỏ, nên bên cạnh cỏ cần có hàng cây lá như keo dậu, cây họ đậu thân bụi, dâm bụt làm hàng rào ăn được.
Làm đất và trồng một mảnh cỏ mới
Một mảnh cỏ thân cao trồng tốt có thể cho cắt nhiều năm, nên công làm đất ban đầu rất đáng bỏ ra. Trình tự chung:
- Chọn thời điểm đầu mùa mưa, hoặc mùa nào chủ động được nước tưới, để cỏ bén rễ nhanh.
- Phát dọn, cày bừa đất cho tơi, nhặt sạch cỏ dại thân ngầm; cỏ dại lẫn vào mảnh cỏ trồng rất khó trừ về sau.
- Bón lót phân chuồng đã ủ hoai; phân bò ủ của chính chuồng nhà mình là nguồn tốt nhất. Có thể bón thêm phân lân theo hướng dẫn của khuyến nông.
- Rạch hàng theo đường đồng mức nếu đất dốc, để giữ đất và nước.
- Trồng bằng hom (đoạn thân có mắt) với cỏ voi, bằng khóm tách gốc hoặc gieo hạt với cỏ sả, cỏ chăn thả, cây họ đậu; lấp đất vừa phải, nén nhẹ.
- Giữ ẩm những tuần đầu, làm cỏ dại một hai lần đến khi cỏ trồng phủ kín mặt đất.
Đừng cắt lứa đầu quá sớm. Lứa đầu nên để cỏ phát triển bộ rễ đầy đủ; cắt sớm khi rễ chưa ăn sâu, gốc cỏ yếu, các lứa sau mọc lại chậm và mảnh cỏ mau tàn.
Cắt cỏ đúng lứa: không non quá, không già quá
Cỏ cắt non thì mềm, giàu dinh dưỡng nhưng ít khối lượng, và cắt liên tục khi còn non làm gốc kiệt sức. Cỏ để già thì nhiều khối lượng nhưng thân xơ cứng, bò dê ăn bỏ nhiều, giá trị dinh dưỡng giảm. Lứa cắt hợp lý là lúc cỏ đã đủ cao, lá còn xanh nhiều, thân chưa hoá gỗ.
Khoảng cách giữa hai lứa thay đổi theo giống cỏ, mùa và mức phân nước: mùa mưa ấm cỏ mọc nhanh, cắt dày hơn; mùa khô, mùa lạnh cỏ chậm, khoảng cách dài ra. Cách dễ nhất là quan sát chiều cao và thân cỏ, kết hợp hỏi các hộ trồng cùng giống trong vùng, rồi ghi lại ngày cắt mỗi lứa để tự rút ra nhịp của mảnh đất nhà mình.
Khi cắt, chừa lại một đoạn gốc trên mặt đất để cỏ đâm chồi mới; cắt sát đất quá làm hỏng mắt chồi, cắt quá cao thì gốc già nhanh. Dùng dao, liềm sắc để vết cắt gọn, không dập nát. Nên cắt cuốn chiếu từng phần của mảnh cỏ thay vì cắt hết một lúc, để ngày nào cũng có cỏ đúng tuổi.
Mùa mưa cỏ thường dư; phần dư nên cắt đúng lứa rồi đem ủ chua thay vì để già ngoài đồng. Cách ủ chua có bài riêng trong chuyên mục.
Chăm mảnh cỏ sau mỗi lứa cắt
Mỗi lứa cắt mang khỏi đồng một lượng lớn chất dinh dưỡng. Không trả lại thì mảnh cỏ năm sau kém hơn năm trước:
- Bón thúc sau mỗi lứa cắt, ưu tiên phân chuồng ủ hoai; nếu dùng phân hoá học thì theo hướng dẫn của khuyến nông và không cắt cỏ cho ăn ngay sau khi bón.
- Tưới nếu có điều kiện, nhất là mùa khô; nước thải sau hầm biogas pha loãng có thể dùng tưới cỏ theo hướng dẫn kỹ thuật.
- Làm cỏ dại quanh gốc, xới nhẹ hai bên hàng.
- Dặm lại những khóm chết, những chỗ trống để mảnh cỏ đều.
- Không phun thuốc trừ sâu, diệt cỏ lên mảnh cỏ dùng cho gia súc ăn; nếu ruộng bên cạnh phun, cần đợi và hỏi rõ trước khi cắt.
- Trồng lại sau vài năm, khi gốc cỏ già, thưa, năng suất giảm rõ dù đã chăm đủ.
Mảnh cỏ và chuồng bò bổ sung cho nhau: phân chuồng nuôi cỏ, cỏ nuôi bò. Hộ nào khép được vòng này thì giảm được phần lớn chi phí phân bón và thức ăn mua ngoài; mô hình kết hợp vườn, ao, chuồng ở quy mô lớn hơn thuộc mảng khác.
Những sai lầm hay gặp khi mới trồng cỏ
Phần lớn mảnh cỏ thất bại không phải vì chọn sai giống mà vì mấy chuyện nhỏ lặp đi lặp lại:
- Trồng xong bỏ đó. Không bón lại sau mỗi lứa cắt, đến năm thứ hai cỏ còi, thưa và người nuôi kết luận giống cỏ không hợp.
- Cắt quá sát gốc hoặc quá dày. Muốn có nhiều cỏ ngay nên cắt liên tục, gốc kiệt sức, mảnh cỏ tàn sớm.
- Để cỏ quá già mới cắt. Thân hoá xơ, bò dê ăn bỏ phần lớn, công trồng phí đi.
- Thả bò vào mảnh cỏ trồng để cắt. Bò dẫm nát gốc, nhất là đất ướt; cỏ cắt và bãi chăn nên tách riêng.
- Trồng một loại duy nhất trên toàn bộ đất. Gặp đợt hạn hoặc sâu bệnh là mất cả nguồn thức ăn cùng lúc.
- Lấy hom, hạt giống từ nguồn không rõ. Hom lẫn cỏ dại, giống thoái hoá làm năng suất thấp ngay từ đầu.
Sửa được những lỗi trên, một mảnh cỏ bình thường cũng cho kết quả khác hẳn mà không cần đổi giống.
Cần bao nhiêu đất cỏ cho đàn của mình: cách ước lượng
Không có con số chung, nhưng có cách tự ước lượng. Cần biết hai thứ: đàn của mình ăn bao nhiêu cỏ tươi mỗi ngày, và mảnh cỏ của mình cho được bao nhiêu cỏ trong một vòng cắt.
Ví dụ giả định: một hộ nuôi ba con bò, mỗi con ăn một lượng cỏ tươi gọi là A mỗi ngày, ngoài phần rơm và phụ phẩm. Mảnh cỏ được chia thành nhiều luống, mỗi ngày cắt một luống, và khi cắt tới luống cuối thì luống đầu đã mọc lại đủ lứa. Người nuôi cân thử cỏ của một luống, nhân với số luống, so với tổng nhu cầu của ba con bò trong cùng khoảng thời gian. Nếu thiếu, hoặc phải trồng thêm, hoặc phải bù bằng rơm, phụ phẩm, hoặc giảm số con.
Ước lượng này nên làm riêng cho mùa mưa và mùa khô, vì năng suất cỏ chênh lệch rất nhiều giữa hai mùa. Điều người nuôi bò nào cũng rút ra sau một hai năm: mùa mưa cỏ dư, mùa khô thiếu. Muốn đàn không gầy mùa khô, phải trồng dư để ủ chua, dự trữ rơm và phụ phẩm từ sớm, chứ không đợi tới khi bãi cỏ cháy vàng mới tìm.
Hỏi thêm cán bộ khuyến nông về năng suất tham khảo của từng giống cỏ ở vùng mình; số liệu của nơi khác chỉ dùng để so sánh vì đất và khí hậu khác nhau nhiều.
Câu hỏi thường gặp
Nên trồng cỏ gì cho bò nuôi nhốt?
Thường chọn một loại cỏ thân cao năng suất cao như cỏ voi hoặc giống lai của nó làm nguồn chính, thêm cỏ sả và một hàng cây họ đậu. Nên hỏi trạm khuyến nông hoặc các hộ nuôi bò trong vùng giống nào hợp với đất và nước nhà mình.
Dê có ăn cỏ voi không?
Dê có ăn, nhưng dê thích lá cây hơn cỏ. Cỏ voi cho dê nên cắt non, băm ngắn, cho ăn kèm lá mít, lá keo dậu, cây họ đậu. Chỉ có cỏ thì dê thường ăn ít và kén, khó đủ dinh dưỡng.
Có nên bón phân hoá học cho cỏ nuôi bò?
Có thể bón theo hướng dẫn của khuyến nông, kết hợp với phân chuồng ủ hoai. Cần để đủ thời gian sau khi bón mới cắt cho gia súc ăn và không bón quá liều. Phân chuồng của chính đàn bò là nguồn phân ổn định và rẻ nhất cho mảnh cỏ.
Cỏ voi cắt bao lâu một lần?
Tuỳ mùa, giống và mức chăm, mùa mưa cỏ mọc nhanh nên lứa ngắn hơn, mùa khô dài hơn. Nên quan sát chiều cao, thân cỏ, kết hợp hỏi các hộ trồng cùng giống ở địa phương và ghi ngày cắt để tự tìm nhịp phù hợp.
Trồng cỏ dưới tán cây ăn trái có được không?
Được với những loại chịu bóng như một số giống cỏ sả, trồng dưới tán thưa. Cần tránh cạnh tranh nước, phân với cây chính và không để bò dê vào vườn gặm cây. Cách tổ chức vườn kết hợp chăn nuôi ở quy mô lớn có thể tham khảo thêm tài liệu về mô hình kết hợp.
Mùa khô thiếu cỏ thì làm sao?
Cách bền vững là chuẩn bị từ mùa mưa: trồng dư để ủ chua, dự trữ rơm, thân ngô, ngọn mía. Ở vùng có nước, có thể dành một phần đất trồng cỏ có tưới cho mùa khô. Không chuẩn bị được thì nên tính giảm đàn trước khi mùa khô tới.