Đệm lót sinh học là lớp chất độn dày như trấu, mùn cưa, rơm băm được trộn chế phẩm vi sinh, để vi sinh vật có lợi phân giải phân gà ngay trên nền chuồng. Làm đúng, chuồng đỡ mùi hôi, nền khô hơn, ít phải thay độn trong cả lứa, cuối lứa có sẵn một đống nguyên liệu làm phân bón. Làm sai, nhất là để đệm quá ướt, đệm thành ổ bệnh còn tệ hơn lớp độn thường.
Bài này dành cho hộ nuôi gà thịt theo lứa hoặc gà thả vườn có chuồng ngủ cố định, muốn giảm mùi với hàng xóm và giảm công dọn chuồng. Phần úm gà con trên đệm lót, với yêu cầu riêng về nhiệt, không nằm trong phạm vi bài.
Đệm lót sinh học hoạt động thế nào
Phân gà chứa nhiều đạm và nước. Trên nền độn thường, phân tích lại, ẩm dần, vi khuẩn gây thối phân giải đạm thành khí amoniac, là mùi khai cay mắt bạn ngửi thấy khi mở cửa chuồng. Amoniac làm tổn thương đường hô hấp của gà, mở đường cho các bệnh hô hấp.
Đệm lót sinh học khác ở chỗ có một lượng lớn vi sinh vật có lợi được cấy vào ngay từ đầu, thường là các nhóm vi khuẩn và nấm men có trong chế phẩm bán sẵn. Chúng sống trong lớp độn, ăn phân mới thải ra, phân giải nhanh hơn và theo hướng ít sinh mùi hơn. Lớp độn dày đóng vai trò nhà ở và thức ăn chứa các-bon cho vi sinh vật.
Quá trình phân giải tỏa nhiệt nên lớp dưới của đệm thường ấm hơn mặt nền. Mùa đông đây là lợi thế, gà nằm ấm. Mùa hè ở miền Nam hay những đợt nắng nóng ở miền Bắc, đệm quá dày và lên men mạnh có thể làm chuồng nóng thêm, nên phải điều chỉnh độ dày theo mùa.
Điều quan trọng nhất cần hiểu: vi sinh vật cần độ ẩm vừa phải để sống. Khô quá, chúng ngủ, đệm chỉ còn là lớp trấu thường. Ướt quá, chúng chết ngạt, nhóm vi khuẩn gây thối chiếm chỗ, đệm bốc mùi và đóng bánh. Mọi kỹ thuật giữ đệm đều xoay quanh việc giữ độ ẩm ở giữa hai đầu đó.
Đệm lót sinh học hay lớp độn thường: chuồng nhà bạn hợp với cách nào
Đệm lót không phải lúc nào cũng hơn. Nó đòi hỏi chuồng khô, mật độ vừa phải và người nuôi chịu khó kiểm tra. So sánh dưới đây giúp bạn tự cân nhắc:
| Tiêu chí | Đệm lót sinh học | Lớp độn thường thay định kỳ |
|---|---|---|
| Mùi trong lứa nuôi | Giảm rõ khi đệm được giữ đúng độ ẩm | Tăng dần, phải thay độn thường xuyên mới đỡ |
| Công dọn chuồng | Ít thay, nhưng phải đảo xới và kiểm ẩm | Xúc, thay độn nhiều lần trong lứa |
| Yêu cầu chuồng trại | Mái không dột, nền không thấm, máng uống không rò | Dễ tính hơn, chuồng tạm vẫn dùng được |
| Mùa nóng | Phải làm mỏng, chuồng phải thoáng | Ít lo nền ấm lên |
| Rủi ro khi làm sai | Đệm hỏng thành ổ mầm bệnh, phải bỏ cả đệm | Chỉ cần thay độn sớm hơn |
| Sau lứa nuôi | Có sẵn nguyên liệu ủ phân đã phân giải một phần | Có độn lẫn phân, cần ủ lâu hơn |
Nếu chuồng nhà bạn còn dột, nền còn thấp, hoặc bạn thường xuyên đi vắng cả tuần, hãy làm chuồng cho tốt và dùng độn thường trước. Khi chuồng đã khô ráo ổn định, chuyển sang đệm lót sẽ dễ thành công hơn nhiều. Với gà thả vườn chỉ về chuồng ban đêm, lượng phân trong chuồng ít hơn gà nhốt, đệm lót thường dễ giữ hơn.
Một cách thử ít rủi ro là làm đệm ở một nửa chuồng, nửa kia giữ độn thường, theo dõi mùi, độ ẩm, công dọn trong cả lứa rồi mới quyết định.
Chọn chất độn: trấu, mùn cưa hay rơm
Chất độn quyết định đệm thoát ẩm nhanh hay chậm và có bụi nhiều không. Nhiều nhà trộn hai loại để lấy ưu điểm của cả hai:
| Chất độn | Ưu điểm | Nhược điểm | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Trấu | Rẻ, sẵn ở vùng lúa, tơi, thoáng | Hút ẩm kém hơn mùn cưa, gà con có thể mổ ăn | Hợp làm phần chính, trộn thêm mùn cưa để tăng hút ẩm |
| Mùn cưa, phôi bào | Hút ẩm tốt, êm chân | Mùn quá mịn gây bụi; gỗ đã xử lý hoá chất không dùng được | Chỉ dùng mùn cưa gỗ tự nhiên, khô, không mốc |
| Rơm, rạ băm | Sẵn sau vụ gặt | Dễ bết, mau mục khi ướt | Băm ngắn, phơi khô, dùng trộn chứ không dùng một mình |
| Lõi ngô nghiền, vỏ cà phê | Tận dụng phụ phẩm vùng trồng | Chất lượng không đều, dễ mốc nếu ẩm | Phơi thật khô, thử ở một ô nhỏ trước |
Tuyệt đối không dùng chất độn đã mốc, có mùi lạ hoặc lấy từ xưởng gỗ dùng hoá chất bảo quản. Nấm mốc trong chất độn gây bệnh hô hấp ở gà, còn hoá chất có thể ngấm vào thịt và trứng.
Làm đệm lót từng bước
Các bước dưới đây là trình tự chung; lượng chế phẩm, cách hoạt hoá và độ dày cụ thể thì làm đúng theo hướng dẫn in trên bao chế phẩm bạn mua, vì mỗi loại một khác:
- Dọn sạch chuồng, để nền khô. Nền đất nện hoặc nền láng đều dùng được, miễn không có nước ngấm từ dưới lên hay mưa tạt vào.
- Phơi khô chất độn. Chất độn ẩm sẵn từ đầu là đệm hỏng nhanh.
- Hoạt hoá chế phẩm theo hướng dẫn, thường là pha với nước và một ít chất ngọt như rỉ đường, để vài giờ cho vi sinh vật thức dậy.
- Rải chất độn thành từng lớp, mỗi lớp phun hoặc rưới đều dung dịch chế phẩm, trộn đều. Độ ẩm sau khi trộn chỉ hơi ẩm tay, nắm chặt không chảy nước.
- Ủ đệm vài ngày trước khi thả gà nếu hướng dẫn yêu cầu; một số loại chế phẩm có thể dùng ngay.
- Độ dày tuỳ mùa và tuổi gà: mùa lạnh dày hơn để giữ ấm, mùa nóng mỏng hơn để đệm không làm chuồng nóng thêm.
- Thả gà vào, ghi lại ngày làm đệm, loại chất độn, loại chế phẩm để lứa sau so sánh.
Giữ đệm trong suốt lứa nuôi
Kiểm tra độ ẩm bằng tay mỗi vài ngày. Bốc một nắm đệm ở giữa chuồng, nắm chặt rồi mở tay. Đệm vừa là hơi ẩm, rời ra khi thả. Đệm chảy nước hoặc dính thành cục là quá ướt; đệm khô xác, bụi bay là quá khô.
Đảo xới lớp mặt định kỳ. Dùng cào, chĩa xới lớp trên để phân trộn vào trong, không khí lọt xuống. Không cần xới sâu tới đáy mỗi lần. Gà thả vườn tự bới cũng giúp một phần, nhưng không đủ ở chỗ gà ít đi lại.
Xử lý ngay chỗ ướt. Quanh máng uống, chỗ mái dột, sát vách hứng mưa là nơi đệm ướt trước. Xúc bỏ phần đóng bánh, bù chất độn khô có trộn chế phẩm. Đồng thời sửa nguyên nhân: kê máng uống, vá mái, che vách.
Bổ sung chế phẩm khi đệm có mùi. Khi bắt đầu ngửi thấy mùi khai, thường là vi sinh vật có lợi đang thua. Bổ sung chế phẩm theo hướng dẫn, xới đều và kiểm lại độ ẩm.
Nhìn gà để biết đệm có ổn không. Gà nằm phơi bụng, tắm bới trên đệm là đệm đang khô, êm. Gà đứng nhiều, tránh nằm, lông ngực bết bẩn, chân có vết đỏ hay loét ở gan bàn chân là dấu hiệu đệm ướt hoặc đóng mảng cứng. Mắt gà chảy nước, gà hắt hơi nhiều buổi sáng thường đi cùng mùi khai, tức là đệm đang sinh amoniac.
Không rắc vôi, không phun thuốc sát trùng lên đệm đang dùng. Vôi và thuốc sát trùng giết luôn vi sinh vật có lợi, đệm mất tác dụng. Sát trùng là việc của khu vực quanh chuồng, lối đi và khi chuồng trống giữa hai lứa.
Những sai lầm làm đệm hỏng
Phần lớn các đệm thất bại ở nông hộ rơi vào một trong các trường hợp sau:
- Chuồng dột, mưa tạt hoặc nền thấp hút nước, đệm ướt từ dưới lên.
- Nuôi quá dày, lượng phân vượt sức phân giải của đệm.
- Máng uống rò rỉ, đặt trực tiếp trên đệm không có khay.
- Đệm quá mỏng, vi sinh vật không đủ chỗ sống và không đủ chất độn để hút ẩm.
- Bỏ quên không đảo, lớp mặt đóng váng phân, bên dưới yếm khí.
- Phun sát trùng lên đệm vì thấy mùi, làm chết vi sinh có lợi.
- Dùng chất độn mốc hoặc chế phẩm để quá hạn, bảo quản sai.
- Đệm dùng lại cho lứa mới sau khi lứa trước có bệnh.
Đệm hỏng có dấu hiệu dễ nhận: mùi khai nồng, đệm đen nhão, bề mặt đóng mảng cứng, gà bị bết lông ngực, chân có vết loét. Khi đã tới mức đó, cứu đệm thường tốn công hơn làm lại. Lúc ấy hãy chuyển gà sang một góc tạm, xúc bỏ toàn bộ phần hỏng, để nền khô hẳn, tìm cho ra nguyên nhân ướt rồi mới làm đệm mới, nếu không lứa đệm sau sẽ hỏng y như cũ.
Hết lứa: dọn đệm, ủ phân và chuyện dùng lại
Cuối lứa, đệm lót đã chứa lượng lớn phân gà phân giải dở dang. Đây là nguyên liệu tốt để làm phân hữu cơ cho vườn. Cách làm phổ biến là dọn đệm ra một chỗ có mái che, xa nguồn nước, đánh đống, giữ ẩm vừa phải và ủ thêm một thời gian cho hoai hẳn trước khi bón. Bón đệm chưa hoai trực tiếp vào gốc cây có thể làm cháy rễ và mang mầm bệnh ra vườn.
Có nơi giữ lại một phần đệm cũ cho lứa sau để tiết kiệm. Cách này chỉ nên làm khi lứa trước khoẻ mạnh, không có bệnh truyền nhiễm, và phải bổ sung chất độn mới, chế phẩm mới. Nếu lứa trước có dịch, có gà chết bất thường, đệm phải dọn sạch, xử lý theo hướng dẫn thú y, chuồng sát trùng và để trống trước khi nuôi tiếp.
Luật Chăn nuôi năm 2018 có yêu cầu về xử lý chất thải chăn nuôi, kể cả ở nông hộ, để không gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Đệm lót sau khi dùng là chất thải chăn nuôi; ủ thành phân trong vườn nhà là cách xử lý phù hợp, đổ ra mương, ra bãi đất trống của xóm thì không. Quy định chi tiết bạn hỏi xã hoặc kiểm văn bản hiện hành.
Với những ai làm vườn, đệm lót gà là một vòng khép kín: gà ăn, phân thành đệm, đệm thành phân bón, phân bón nuôi rau, rau lại cho gà. Mô hình vườn ao chuồng đầy đủ có site chuyên về trồng trọt kết hợp phân tích kỹ hơn.
Câu hỏi thường gặp
Đệm lót sinh học dùng được bao lâu?
Không có con số chung, phụ thuộc mật độ gà, chất độn, khí hậu và cách giữ. Nhiều hộ dùng trọn một lứa gà thịt với việc bổ sung chất độn và chế phẩm định kỳ. Dấu hiệu phải thay là mùi khai nồng không giảm sau khi bổ sung, đệm đen nhão và đóng bánh rộng.
Có tự làm chế phẩm vi sinh ở nhà được không?
Có những cách tự nhân vi sinh từ nguyên liệu nhà được truyền miệng, nhưng chất lượng rất khó kiểm soát và có thể nhân luôn cả vi sinh vật có hại. Hộ nhỏ nên dùng chế phẩm có nguồn gốc rõ, còn hạn, bảo quản đúng cách và làm theo hướng dẫn trên bao.
Đệm lót sinh học có làm hết mùi chuồng gà không?
Đệm giảm mùi rõ rệt khi làm đúng, nhưng không làm chuồng hết mùi hoàn toàn. Mùi tăng lên là dấu hiệu đệm đang quá ướt, nuôi quá dày hoặc cần bổ sung chế phẩm. Giữ chuồng thoáng và đặt chuồng xa nhà hàng xóm vẫn cần thiết.
Nuôi gà trên đệm lót có cần sát trùng chuồng không?
Không phun sát trùng lên đệm đang dùng vì sẽ giết vi sinh có lợi. Vẫn sát trùng lối đi, khu quanh chuồng, dụng cụ và chuồng trống giữa hai lứa. Khi trong vùng có dịch, làm theo hướng dẫn của thú y về việc sát trùng.
Mùa hè nắng nóng có nên dùng đệm lót không?
Vẫn dùng được nhưng nên làm đệm mỏng hơn, chuồng thông thoáng hơn, nuôi thưa hơn. Đệm lên men tỏa nhiệt nên có thể làm nền ấm hơn trong những ngày rất nóng. Quan sát gà: nếu gà há mỏ, nằm dạt sát vách, cần giảm độ dày đệm và tăng thông gió.
Đệm lót cũ bón cho rau ngay được không?
Không nên bón ngay. Đệm cũ vẫn còn phân chưa phân giải hết và có thể mang mầm bệnh. Ủ thêm thành đống có mái che cho tới khi hoai mục, không còn mùi hôi rồi mới bón. Với rau ăn sống, càng cần ủ kỹ.