Ủ chua cỏ là cách giữ cỏ tươi lâu dài bằng cách nén chặt cỏ đã băm trong túi, thùng hoặc hố kín không có không khí, để vi khuẩn lên men tạo axit làm cỏ không thối. Làm đúng thì sau khoảng vài tuần cỏ chuyển sang màu vàng xanh, mùi chua thơm, bò dê ăn tốt và giữ được nhiều tháng, đủ để qua mùa khô.
Ủ chua không khó nhưng có vài điểm quyết định thành bại: cỏ không quá ướt, nén thật chặt, đậy thật kín. Bài này đi qua từng bước cho hộ nuôi vài con bò, dê, cách nhận biết mẻ ủ tốt hay hỏng, cách cho ăn, và phần cuối bàn về ủ rơm với urê, một cách làm phổ biến nhưng cần hiểu đúng để an toàn.
Ủ chua là gì và vì sao cỏ ủ để được lâu
Cỏ tươi để ngoài không khí sẽ bị vi khuẩn, nấm mốc phân huỷ trong vài ngày. Khi cỏ được nén chặt trong môi trường kín, phần không khí còn lại nhanh chóng bị dùng hết. Lúc đó nhóm vi khuẩn lactic, vốn có sẵn trên cỏ, phát triển mạnh, chuyển đường trong cỏ thành axit lactic. Axit làm môi trường chua dần, tới mức các vi sinh vật gây thối và nấm mốc không sống nổi. Mẻ ủ ổn định ở trạng thái đó và giữ được lâu nếu không bị hở.
Có ba điều kiện để quá trình này diễn ra đúng: không có không khí, cỏ có đủ đường để vi khuẩn lactic lên men, và độ ẩm vừa phải. Thiếu điều kiện đầu, mẻ ủ mốc. Thiếu điều kiện thứ hai, axit tạo ra không đủ, mẻ ủ thối, có mùi khó chịu. Cỏ quá ướt thì nhóm vi khuẩn khác phát triển, mẻ ủ nhớt, chảy nước, mùi hôi.
Vì vậy cỏ thân cao như cỏ voi, thân lá ngô, ngọn mía có nhiều đường thường ủ dễ. Cỏ họ đậu nhiều đạm, ít đường thường khó ủ một mình hơn, hay được trộn với cỏ hoà thảo hoặc bổ sung thêm rỉ mật đường, cám để mẻ ủ lên men tốt.
Chuẩn bị nguyên liệu, chỗ ủ và dụng cụ
Trước ngày ủ, gom đủ mọi thứ để làm một mạch, vì cỏ đã băm mà để qua đêm thì bắt đầu nóng và hỏng:
- Cỏ cắt đúng lứa, không quá già: cỏ voi, cỏ sả, thân lá ngô sau thu bắp, ngọn mía. Không dùng cỏ dính bùn đất, cỏ thối, cỏ vừa phun thuốc.
- Chất bổ sung khi cần: rỉ mật đường, cám gạo, bột ngô hoặc bột sắn để tăng đường cho mẻ ủ. Lượng dùng theo hướng dẫn của khuyến nông hoặc tài liệu kỹ thuật địa phương.
- Dụng cụ chứa: túi nilon dày hai lớp, thùng nhựa có nắp kín, hoặc hố, bể xây có lót bạt. Hộ nhỏ thường dùng túi hoặc thùng vì dễ làm và mở dùng dần.
- Dao, máy băm cỏ để băm cỏ thành đoạn ngắn; cỏ ngắn nén chặt hơn nhiều so với cỏ để nguyên cây.
- Bạt lót nền chỗ băm và trộn, tránh lẫn đất cát.
- Dây buộc, băng dính để đóng kín miệng túi.
- Chỗ để có mái che, râm mát, cao ráo, không có chuột, không bị gà vịt mổ thủng túi.
Với thùng nhựa, nên dùng loại đã chứa thực phẩm hoặc thùng mới, rửa sạch, không dùng thùng từng đựng hoá chất, dầu nhớt hay thuốc trừ sâu.
Các bước ủ chua cỏ trong túi hoặc thùng
Quy trình dưới đây là cách làm phổ biến cho nông hộ; các tài liệu khuyến nông địa phương có thể điều chỉnh chi tiết theo loại cỏ:
- Cắt cỏ vào buổi sáng khi đã ráo sương, phơi héo vài giờ cho bớt nước. Cỏ vắt bằng tay mà nước chảy ròng ròng là còn quá ướt; cỏ khô giòn là quá khô.
- Băm cỏ thành đoạn ngắn vài phân trên bạt sạch.
- Nếu dùng chất bổ sung, rải đều lên từng lớp cỏ, trộn kỹ để không có chỗ quá nhiều, chỗ không có.
- Cho cỏ vào túi hoặc thùng từng lớp mỏng, mỗi lớp dùng tay, chân hoặc chày nén thật chặt, nhất là ở các góc.
- Nén tới khi đầy, ép ra hết không khí; với túi thì vuốt đuổi khí từ dưới lên rồi buộc chặt miệng, gập lại buộc thêm lần nữa.
- Ghi ngày ủ và loại cỏ bằng cách buộc một sợi dây màu hoặc ghi vào sổ; xếp túi, thùng ở chỗ râm, kê cao, tránh vật nhọn.
- Để yên khoảng ba tuần cho quá trình lên men ổn định, trong thời gian đó kiểm tra túi có bị thủng, chuột cắn không, thấy thủng thì dán ngay.
Hố hoặc bể ủ lớn cũng theo đúng nguyên tắc đó: lót bạt, xếp từng lớp, nén bằng chân hoặc lăn, phủ bạt kín trên cùng và đè vật nặng. Hố ủ lớn phải dùng nhanh sau khi mở, vì mặt cắt tiếp xúc không khí sẽ hỏng dần.
Nhận biết mẻ ủ tốt hay hỏng
Khi mở túi, dùng mắt, mũi và tay để đánh giá. Phần lớn người nuôi chỉ cần vài lần là nhận ra ngay:
| Tiêu chí | Mẻ ủ tốt | Mẻ ủ hỏng |
|---|---|---|
| Màu | Vàng xanh hoặc vàng nâu đều | Đen, nâu sẫm, có đốm trắng, xanh của nấm mốc |
| Mùi | Chua nhẹ, thơm như dưa muối | Thối, khai, mùi amoniac hoặc mùi hăng khó chịu |
| Cảm giác tay | Cỏ còn tơi, ẩm vừa, không nhớt | Nhớt, dính, chảy nước, hoặc khô bở |
| Hình dạng | Còn thấy rõ thân lá cỏ | Nát vữa, mủn |
| Phản ứng của bò dê | Ăn sau vài ngày tập, ăn hết khẩu phần | Ngửi rồi bỏ, ăn xong tiêu chảy |
Phần mốc thường nằm ở lớp trên cùng, quanh miệng túi hoặc chỗ túi bị thủng. Bỏ hẳn phần này, không "rửa qua" hay phơi lại cho ăn. Nấm mốc trong thức ăn có thể gây ngộ độc, sẩy thai và rối loạn tiêu hoá ở gia súc. Nếu cả mẻ có mùi thối, chảy nước, bỏ cả mẻ và xem lại khâu phơi héo, nén và đóng kín.
Cho bò, dê ăn cỏ ủ chua
Tập ăn từ ít đến nhiều. Lần đầu bò dê có thể ngửi rồi chê vì mùi chua lạ. Trộn một ít cỏ ủ với cỏ tươi, tăng dần trong vài ngày.
Mở túi nào dùng túi đó. Lấy đủ phần cho ăn trong ngày, đuổi khí rồi buộc lại ngay. Túi đã mở nên dùng hết trong thời gian ngắn vì không khí vào là mẻ ủ bắt đầu hỏng.
Không thay hoàn toàn cỏ tươi, rơm. Cỏ ủ chua là một phần khẩu phần, vẫn cần rơm, cỏ khô hoặc cỏ tươi để dạ cỏ có đủ chất xơ.
Cho ăn trong ngày, không để qua đêm ngoài máng. Cỏ ủ đã lấy ra để lâu trong máng nắng nóng sẽ nóng lên, mốc và bò dê bỏ ăn.
Dê kén hơn bò. Dê thường cần thời gian tập lâu hơn, nên cho ăn cỏ ủ từ những mẻ ngon nhất và kèm lá cây dê thích.
Quan sát phân. Phân quá nát sau khi đổi sang cỏ ủ là dấu hiệu tăng quá nhanh hoặc mẻ ủ chưa đạt; giảm lại và xem kỹ mẻ ủ.
Ủ rơm với urê: nguyên lý và những điều phải nhớ để an toàn
Rơm lúa là phụ phẩm có nhiều ở nông thôn nhưng cứng, nghèo đạm, bò ăn khó tiêu. Ủ rơm với urê là cách xử lý phổ biến: urê (loại phân đạm bón ruộng) hoà nước rồi tưới đều lên rơm, sau đó rơm được nén và đậy kín. Trong môi trường kín và ẩm, urê chuyển thành amoniac, làm mềm cấu trúc xơ của rơm và bổ sung một nguồn đạm mà vi sinh vật dạ cỏ dùng được. Rơm ủ đạt có màu vàng sẫm, mềm, mùi khai nhẹ.
Ủ rơm với urê chỉ nên làm khi đã được hướng dẫn tỷ lệ và cách làm cụ thể bởi cán bộ khuyến nông hoặc tài liệu kỹ thuật chính thức, vì sai tỷ lệ có thể gây hại. Những nguyên tắc an toàn cốt lõi: không bao giờ cho bò dê ăn urê trực tiếp hoặc uống nước pha urê; urê phải được hoà tan hoàn toàn và tưới thật đều, không để vón cục; mở rơm ủ ra cho bay bớt mùi amoniac trước khi cho ăn; tập cho ăn từ ít đến nhiều; không cho bê nghé còn nhỏ ăn rơm ủ urê vì dạ cỏ chưa phát triển đầy đủ.
Bảo quản bao urê ở chỗ khô, xa máng ăn, xa tầm tay trẻ em và xa nơi gia súc với tới; nhiều vụ ngộ độc xảy ra vì bò dê liếm phải urê rơi vãi. Dấu hiệu ngộ độc như run rẩy, chảy nhiều nước dãi, đi loạng choạng, bụng chướng, khó thở xuất hiện sau khi ăn là trường hợp cấp cứu: ngừng cho ăn ngay và gọi thú y lập tức.
Ủ bao nhiêu thì đủ qua mùa khô: cách ước lượng
Câu hỏi người mới hay gặp là nên ủ bao nhiêu túi. Cách tính dựa trên ba con số tự đo được ở nhà: số ngày mùa khô thiếu cỏ tươi, lượng cỏ ủ định cho mỗi con ăn mỗi ngày, và khối lượng cỏ trong một túi đã nén chặt.
Ví dụ giả định: mùa khô ở vùng của một hộ kéo dài khoảng ba tháng, hộ nuôi hai con bò, định cho mỗi con ăn mỗi ngày một phần cỏ ủ bằng B, phần còn lại là rơm và cỏ tươi ít ỏi. Người nuôi cân thử một túi đã ủ xong được C. Số túi cần chuẩn bị bằng số ngày nhân với hai con nhân với B, chia cho C, rồi cộng thêm một phần dự phòng cho những túi bị hỏng. Con số ra được sẽ cho biết phải dành bao nhiêu đất cỏ để cắt ủ trong mùa mưa.
Nhiều hộ thấy con số này lớn hơn họ nghĩ, và đó chính là giá trị của phép tính: biết sớm để trồng thêm cỏ, tận dụng thân lá ngô sau thu hoạch, ngọn mía mùa ép, hoặc tính giảm đàn trước mùa khô thay vì để bò gầy rộc.
Những lỗi làm hỏng mẻ ủ
Mẻ ủ hỏng thường do một trong mấy nguyên nhân dưới đây, và hầu hết sửa được ngay ở mẻ sau:
- Cỏ quá ướt do cắt khi còn sương hoặc sau mưa, không phơi héo: mẻ ủ chảy nước, nhớt, thối.
- Nén không chặt, nhất là ở góc thùng, góc túi: không khí còn lại nuôi nấm mốc.
- Buộc túi lỏng, túi mỏng, túi thủng do chuột, gà, vật nhọn: mốc lan từ chỗ thủng vào trong.
- Cỏ quá già: thân xơ, ít đường, mẻ ủ lên men kém và bò dê không thích.
- Lẫn đất cát khi băm trên nền đất: mẻ ủ dễ thối và bò ăn vào hại răng, dạ dày.
- Mở túi xem quá sớm rồi buộc lại: không khí đi vào giữa lúc đang lên men.
- Để túi ngoài nắng: nhiệt độ cao làm túi giòn, rách và mẻ ủ nóng lên.
Với người mới, nên làm thử vài túi nhỏ trước khi ủ số lượng lớn. Sau vài tuần mở ra xem, ngửi, cho bò ăn thử, rồi mới nhân lên cho cả mùa khô.
Câu hỏi thường gặp
Ủ chua cỏ bao lâu thì cho bò ăn được?
Thường khoảng ba tuần trở lên để quá trình lên men ổn định; mẻ ủ đóng kín, không hở có thể giữ nhiều tháng. Khi mở thấy màu vàng xanh, mùi chua thơm, cỏ tơi là dùng được; mốc hoặc thối thì bỏ.
Có cần cho thêm muối khi ủ chua cỏ không?
Một số tài liệu khuyến nông có hướng dẫn bổ sung một lượng muối nhỏ, nhưng điều quyết định mẻ ủ là nén chặt, đóng kín và cỏ đủ đường. Nếu bổ sung, nên theo lượng mà tài liệu kỹ thuật địa phương hướng dẫn, không tự tăng.
Ủ chua cỏ trong túi nilon có được không?
Được và rất phổ biến ở nông hộ. Nên dùng túi dày, lồng hai lớp, nén chặt, đuổi khí và buộc kín. Túi phải để chỗ râm, cao ráo, tránh chuột, gà và vật nhọn làm thủng.
Cỏ ủ chua bị mốc một phần có cho ăn được không?
Phần mốc phải bỏ hẳn, không rửa hay phơi lại cho ăn, vì nấm mốc có thể gây ngộ độc và rối loạn tiêu hoá. Phần còn lại nếu màu, mùi bình thường có thể dùng, nhưng nên dùng sớm và theo dõi bò dê sau khi ăn.
Dê có ăn được cỏ ủ chua không?
Dê ăn được nhưng thường kén hơn bò, cần tập từ ít đến nhiều và trộn với lá cây quen. Nên cho dê ăn những mẻ ủ đạt chất lượng tốt nhất; mẻ có mùi lạ dê thường bỏ.
Ủ rơm với urê có nguy hiểm không?
Làm đúng hướng dẫn kỹ thuật thì đây là cách xử lý rơm được dùng rộng rãi. Nguy hiểm khi cho ăn urê trực tiếp, sai tỷ lệ, urê không tan đều hoặc gia súc liếm phải phân urê rơi vãi. Nghi ngộ độc thì ngừng cho ăn và gọi thú y ngay.